Lưu trữ

Archive for the ‘Binh chủng pháo binh’ Category

Lịch sử xe tăng số 555

Tháng Tư 3, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Xe tăng lội nước PT – 76, do Liên Xô sản xuất, số hiệu 555, Lữ đoàn 203 sử dụng đánh trận đánh Huội San – Tà Mây, Lao Bảo – Làng Vây trong chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh năm 1968 và trận đánh sở chỉ huy lữ đoàn dù số 3 nguỵ Sài Gòn, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ – chỉ huy trưởng, cùng toàn bộ ban tham mưu lữ đoàn trên điểm cao 543 trong chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào năm 1971.

Xe tăng lội nước kiểu PT – 76 do Liên Xô sản xuất viện trợ cho Việt Nam cuối năm 1965, nằm trong biên chế Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 203. Kíp xe tăng 555 đầu tiên gồm Lê Xuân Tấu – trưởng xe, Nguyễn Văn Cơn – lái xe, Nguyễn Văn Tuấn – pháo thủ.

Hơn hai năm huấn luyện miệt mài, đầy gian nan vất vả trên thao trường núi rừng Lương Sơn – Hoà Bình, đầu tháng 10/1967, kíp xe được biên chế về Lữ đoàn 203, hành quân vào chiến trường. Từ Lương Sơn – Hòa Bình, theo các trục đường 12A; 15; 30; 8; 21; 20; 12B…hầu hết là những con đường chiến lược mới mở dọc dải Trường Sơn qua Lào. Xe tăng PT – 76 số hiệu 555 luôn luôn dẫn đầu đội hình hành quân của tiểu đoàn, vượt qua nhiều đèo dốc, sông rộng nước chảy xiết, các trọng điểm, trục đường bị địch đánh ác liệt. Ban ngày nghỉ giấu quân, giấu xe, tối hành quân. Cuối tháng 12 năm 1967, xe tăng 555 cùng toàn tiểu đoàn xe tăng 198 đến vị trí tập kết chờ lệnh tham gia chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh từ ngày 20-1-1968 đến ngày 15-7-1968 – lực lượng tăng thiết giáp quân đội ta lần đầu tiên tham gia chiến đấu.

Trong chiến dịch này, xe tăng 555 thuộc biên chế Đại đội 3, Tiểu đoàn 198, Trung đội trưởng Lê Xuân Tấu – trưởng xe, Nguyễn Đức Miêng – lái xe, Nguyễn Văn Tuấn – pháo thủ. Đại đội 3 xe tăng nhận lệnh phối thuộc với Trung đoàn 24, Sư đoàn bộ binh 304 tiêu diệt địch ở đồn Tà Mây, nằm trong cụm cứ điểm Huội San.

23 giờ 30 phút đếm 23/1/1968, từ vị trí tập kết ở Cha Ki Phìn cách Huội San 8km, toàn đại đội 3 xe tăng xuất phát tiến công Huội San. Trên đường tiến công, đã vượt qua được ngầm thứ ba thì xe 555 đi đầu đội hình bị sa lầy, phải mất khá nhiều thời gian cứu, mới kéo được xe lên. Lúc này địch phát hiện ta tiến công, cho máy bay ném bom đánh phá ác kiệt. Đại đội 3 xe tăng được lệnh dạt sang hai bên giấu quân, riêng xe 555 và 551 tiếp tục vượt lên, song đến xe 551 lại bị sa lầy nặng hơn, gần sáng mới kéo lên được. Liền sau đó cả hai xe tăng với tốc độ cao vọt lên theo đường số 9 xông thẳng vào cứ điểm địch. Lúc này bộ binh ta đã áp sát hàng rào đồn Tà Mây và đang bị hoả lực dày đặc của địch chặn lại. Được xe 551 bắn yểm trợ, trung đội trưởng Lê Xuân Tấu lệnh cho xe 555 tăng tốc độ vọt lên xông thẳng vào cổng chính, húc đổ vật cản, đánh thẳng vào bên trong cứ điểm dẫn dắt bộ binh đánh vào tung thâm diệt sở chỉ huy địch. Lần đầu tiên thấy xe tăng ta xung trận, quân địch hoàn toàn bị bất ngờ bỏ chạy tán loạn. 8 gìơ sáng ngày 24/1 ta hoàn toàn làm chủ đồn Tà Mây.

Theo kế hoạch tác chiến sau khi chiếm Tà Mây, quân ta tiếp tục tiến công cứ điểm Lao Bảo – Làng Vây, một vị trí quan trọng nằm trong hệ thống phòng ngự của địch ở Khe Sanh, do một tiểu đoàn thám báo nguỵ đóng trên hai điểm cao 320 và 230 – có một trung đội cố vấn Mỹ chỉ huy, đây là một vị trí được bố phòng kiên cố trong tuyến phòng thủ phía Tây theo trục đường số 9 của Mỹ – nguỵ.

23 giờ 15 phút ngày 7/2/1968 xe tăng ta trên các hướng bắt đầu xuất kích. Từ hướng Tây, xe 555 do trung đội trưởng Lê Xuân Tấu làm trưởng xe dẫn đầu đội hình trung đội 3 của đại đội xe tăng 3 tiến công vào cứ điểm địch, dùng hoả lực chi viện cho bộ binh đánh chiếm vị trí tiền tiêu ở cao điểm 230. Địch chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy về điểm cao 320. Sau khi công binh mở được cửa, xe 555 đã nhanh chóng đè bẹp sức đề kháng của địch, cùng trung đội 3 đánh chiếm khu đại đội biệt kích nguỵ số 103, rồi phối hợp với đơn vị bạn tiến vào sở chỉ huy địch. Bọn địch ở đây hoàn toàn tan rã và bị tiêu diệt phần lớn. Ba giờ sáng ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa.

Trận đánh Làng Vây là trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng đầu tiên có xe tăng tham gia tiến công căn cứ phòng ngự kiên cố của địch và giành thắng lợi giòn giã.

Ra trận lần đầu, xe 555 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần khẳng định truyền thống “đã ra quân là đánh thắng” của bộ đội tăng – thiết giáp.

Trong chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào năm 1971, xe tăng 555 nằm trong đội hình đại đội 9 tăng – thiết giáp, nhận lệnh đánh điểm cao 543. Kíp chiến đấu gồm Nguyễn Văn Duyên – trưởng xe, Đặng Văn Đoàn – lái xe, Nguyễn Thoảng – pháo thủ.

Lực lượng địch ở điểm cao 543 gồm sở chỉ huy lữ đoàn dù 3, một tiểu đoàn dù, một tiểu đoàn pháo binh thiếu, một đại đội công binh, có công sự kiên cố, bên ngoài bố trí vật cản là hàng rào dây thép gai và các bãi mìn chống tăng và chống bộ binh bảo vệ cứ điểm.

11 giờ 30 phút ngày 25/2/1971, Đại đội tăng 9 được lệnh xuất kích, xe 555 có chính trị viên tiểu đoàn Lê Cối cùng dẫn đầu đội hình trung đội 1 rú ga tăng tốc độ húc đổ những cây to đã cưa sẵn ba phần tư về hướng tiến của xe tăng tiến lên điểm cao 543. Thấy xe tăng của ta xuất hiện, địch tập trung hoả lực pháo binh, máy bay đánh vào đội hình tiến công của bộ binh và xe tăng ta. Một trùm bom rơi cách xe 555 vài chục mét làm ống nước bị hỏng, lái xe Đoàn nhanh chóng dùng ống cao su thay thế và tiếp tục cho xe tiến thẳng lên phía trước. Trưởng xe Duyên sử dụng pháo PT – 76 bắn vào các hoả điểm và tiêu diệt quân địch đang bỏ chạy từ mỏm 4 về sân bay lên thẳng.

Trung đội mũi nhọn tiếp tục tiến sang mỏm 5. Từ các ngách hào đạn cối cá nhân và lựu đạn địch tung về phía trước, sượt sát thành xe bên trái và sượt phía trước gần chỗ đồng chí Lê Cối ngồi. Lái xe Đoàn dấn mạnh ga lao lên mỏm đồi nhưng xe bị vướng ụ đất không tiến lên được, phải dừng lại. Hai xe bạn 546 và 563 vượt lên trước bị máy bay địch bắn hỏng phải dừng lại. Sau 5 phút xe 555 lùi lại và tiếp tục tiến lên phía trước. Được hai xe bạn dùng hoả lực pháo chi viện, xe 555 vừa tiến, vừa bắn vào khu vực trân địa pháo địch và xông thẳng vào khu trung tâm thông tin, cùng bộ binh đánh chiếm Sở chỉ huy lữ đoàn dù 3 nguỵ, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ – chỉ huy trưởng và toàn bộ ban tham mưu của chúng.

Trận hiệp đồng tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 543 của Đại đội 9 Tiểu đoàn 198 Lữ đoàn 203 với Trung đoàn 64 Sư đoàn 304 trong chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào là trận đánh hợp đồng binh chủng đạt hiệu suất chiến đấu cao góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Đường số 9 – Nam Lào năm 1971.

Với những thành tích xuất sắc đạt được trong chiến đấu, sau trận đánh, tập thể đại đội xe tăng 9 và xe tăng 555 vinh dự đón nhận Huân chương Chiến công hạng Ba. Trưởng xe Nguyễn Văn Duyên được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất, pháo thủ Thoảng và lái xe Đoàn được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Sau chiến dịch, xe 555 được đưa ra triển lãm chiến thắng Đường 9 – Nam Lào tại Vân Hồ, Hà Nội rồi đưa về trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Hai kíp chiến đấu trên xe 555 dũng mãnh năm xưa đến nay người còn trong quân ngũ, người đã phục viên, chuyển nghành. Lê Xuân Tấu – trung đội trưởng, trưởng xe tăng 555 trong trận Tà Mây – Làng Vây năm 1968; đại đội trưởng đại đội xe tăng 9, tham gia trong trận đánh điểm cao 543 Đường 9 – Nam Lào năm 1971, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1972. Đồng chí Lê Xuân Tấu hiện là Thiếu tướng – Tư lệnh Binh chủng tăng thiết giáp.

(Theo btlsqsvn.org.vn)

Rạng danh pháo binh chiến dịch

Tháng Tư 3, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Trên toàn miền Nam, lực lượng pháo binh tham gia cuộc Tổng tiến công năm 1975 với số lượng lớn. Tính từ ngày 18-1-1975, (chiến dịch Tây Nguyên 129 khẩu pháo cỡ lớn, 94 khẩu pháo xe kéo, 35 khẩu pháo mang vác ĐKB, H12, cối 120mm) và 349 khẩu pháo, cối nhỏ.

Chiến dịch Huế-Đà Nẵng có 384 khẩu (103 khẩu pháo xe kéo, 281 khẩu pháo mang vác, không kể pháo cối nhỏ).

Chiến dịch Hồ Chí Minh có 509 khẩu (241 khẩu pháo xe kéo, 88 khẩu pháo mang vác, không kể pháo cối nhỏ). Lượng vật tư kỹ thuật, đạn dược tiêu thụ rất lớn, thời gian lại rất khẩn trương chỉ trong 55 ngày đêm với 3 chiến dịch lớn nên công tác kỹ thuật gặp không ít khó khăn, đặc biệt là công tác bảo đảm kỹ thuật và bảo đảm đạn. Để giải quyết khó khăn này, thực hiện chủ trương lấy pháo, đạn địch đánh địch.

Trong chiến dịch Tây Nguyên, lực lượng kỹ thuật pháo binh cùng với các lực lượng khác đã thu hồi đưa vào sử dụng nhiều xe pháo, đạn dược và khí tài của địch. Nhiều phân đội pháo binh chuyển từ pháo 122mm sang pháo 105mm, 155mm, dùng hàng ngàn viên đạn, hàng vạn lít xăng dầu chiến lợi phẩm, do đó dù phải truy kích địch xa tuyến hậu cần cơ bản hàng trăm kilômét vẫn bảo đảm đủ xăng dầu, đạn dược, sức kéo để cơ động theo sát đội hình bộ binh và đủ hoả lực chiến đấu kịp thời. Các đơn vị còn mạnh dạn sử dụng tù, hàng binh (có chọn lọc) để khai thác, sử dụng các phương tiện, xe kéo pháo, khí tài hệ 2, phát hiện các kho đạn, kho xăng dầu của địch. . .

Trong chiến dịch Huế – Đà Nẵng, trên hướng Quân khu 5 đã thu hồi và đưa vào sử dụng 5.963 viên đạn pháo địch, chiến 79% số đạn pháo xe kéo tiêu thụ trong chiến dịch, pháo binh Quân khu Trị Thiên đã sử dụng 15 khẩu pháo xe kéo, 6.000 viên đạn địch để đánh địch. Riêng Lữ đoàn 164 Quân đoàn 2 sử dụng nhiều xe chiến lợi phẩm tăng sức cơ động từ 25% lên 100% bảo đảm được yêu cầu cơ động thần tốc vào tham gia giải phóng Sài Gòn.

Trong chiến dịch Tây Nguyên có thể nêu lên 3đòn hoả lực pháo binh.

Đòn hoả lực thứ nhất: Hoả lực pháo binh chi viện bộ binh, xe tăng thọc sâu đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Đây là đòn hoả lực được chuẩn bị kỹ cho trận tiến công quy mô tương đối lớn, dùng hoả lực pháo bắn chuẩn bị, bảo đảm cho bộ binh xe tăng trên nhiều hướng; mũi thọc sâu đánh chiếm cùng lúc những mục tiêu chủ yếu trong thị xã Buôn Ma Thuột.

Theo kế hoạch giờ “G” là 06.00h ngày 10-3-1975 nhưng thời tiết xấu nên đến 07 giờ 15 phút, pháo binh mới bắt đầu thực hành hoả lực chuẩn bị với gần 5.000 viên đạn cỡ lớn cùng lúc bắn vào 3 mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy sư 23, sở chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc, căn cứ liên hiệp quân sự và 7 trận địa pháo địch. Đạn trúng mục tiêu ngay loạt đạn đầu, diệt nhiều địch, gây cháy, nổ làm tê liệt hoàn toàn các trận địa pháo địch. . . khoảng gần trưa bộ binh và xe tăng ta đã chạm địch ở các cứ điểm ngoại vi thành phố. Đến 15.00h quân ta đánh chiếm được sở chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc, khu căn cứ liên hợp quân sự và một phần sở chỉ huy sư đoàn 23. Căn cứ này địch tổ chức phòng ngự khá kiên cố, quân ta phải tổ chức lại để tiến công, đến 06.00 ngày 11 tháng 3 năm 1975 sau đợt hoả lực pháo bắn chuẩn bị lần thứ hai với mật độ đạn lớn, kết hợp với pháo bắn thẳng của pháo 85mm , pháo mang vác. . . đến 09.00h ta làm chủ sở chỉ huy sư 23 ngụy, và tới 11.00 cùng ngày quân ta đã làm chủ hoàn toàn Buôn Ma Thuột.

Đòn hoả lực thứ hai: Pháo binh cơ động linh hoạt, bám sát và chi viện kịp thời cho bộ binh, xe tăng đánh phản kích của địch tại Phước An. Đậy là trận mà hoả lực pháo binh phải đánh nhiều mục tiêu ngoài kế hoạch, lại phải di chuyển trận địa nhưng do có dự kiến từ trước và tổ chức được nhiều đài quan sát luồn sâu bám sát đội hình chiến đấu của Sư đoàn bộ binh 316 và Sư đoàn bộ binh 10, nên ngày 12-3-1975 khi trung đoàn 45 ngụy đổ bộ bằng trực thăng xuống điểm cao 581 định cùng trung đoàn 53 và liên đoàn biệt động số 21 tổ chức phản kích thì lập tức bị hoả lực các cụm pháo chiến dịch của ta bắn trúng, bắn mạnh chia cắt đội hình của chúng, tạo điều kiện cho bộ binh, xe tăng liên tiếp trong những ngày 13 đến 15 tháng 3 tiêu diệt từng trung đoàn địch, đánh chiếm căn cứ trung đoàn 53 ngụy, số còn lại phải rút chạy về Phước An.

Trung đoàn bộ binh 24 đã dùng xe cơ giới truy kích có xe tăng tăng cường và được cụm pháo 675 trực tiếp chi viện; sáng 16-3-1975 sau đợt tập kích hoả lực pháo Đ74 của cụm pháo 675, các mũi bộ binh xe tăng Trung đoàn 24 của ta đã đánh chiếm quận lỵ Phước An tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, thừa thắng quân ta đánh chiếm quận lỵ Chư Pảh tiêu diệt tàn quân của sư đoàn 23 ngụy và đập tan toàn bộ kế hoạch phản kích của địch vào Buôn Ma Thuột.

Đòn hoả lực thứ ba: Pháo binh vừa cơ động vừa chuẩn bị chi viện Sư đoàn 320A hợp vây tiêu diệt toàn bộ quân địch tháo chạy khỏi Tây Nguyên.

Từ chiều 16 tháng 3, ta đã phát hiện quân địch từ 2 tỉnh Kon Tum và PLây Cu, rút theo đường 7 qua Cheo Reo về đồng bằng. Bộ chỉ huy mặt trận lệnh cho Sư đoàn 320A có Trung đoàn 95 làm dự bị được tăng cường một tiểu đoàn xe tăng và cụm pháo binh 675 bám chặt và tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên. Kế hoạch tác chiến của Sư đoàn 320A như sau: Trung đoàn 66 dùng xe ô tô cơ động được tăng cường 2 khẩu 105mm và 2 khẩu 85mm có nhiệm vụ chia cắt đội hình địch trên đường 7. Trung đoàn 64 làm nhiệm vụ luồn sâu đánh chiếm 1 đoạn đường 7, phía đông nam thị xã Cheo Reo, chặn đầu cuộc hành quân rút chạy của địch. Trung đoàn 48 đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu được tăng cường trung đoàn pháo của sư đoàn. Trung đoàn pháo 675 nhanh chóng cơ động chiếm lĩnh trận địa bắn ngay vào Cheo Reo.

16.00h ngày 17 tháng 3 năm 1975, tiểu đoàn đi đầu của Trung đoàn 64 đã chạm địch trên đường số 7, ngay lập tức quân ta tiêu diệt đoàn xe 8 chiếc và làm chủ đường số 7 phía đông nam Cheo Reo 4 – 5km. Cùng ngày 17 tháng 3 sau khi bộ binh đánh chiếm Chư Pảh mở đường cho pháo xe kéo cơ động và chiếm lĩnh trận địa, đến 11 giờ 30 phút ngày 18 tháng 3, pháo Đ74 đã bắt đầu rót đạn vào các mục tiêu trong thị xã Cheo Reo gây cho địch hoang mang rối loạn; 18.30h quân ta đã chiếm sân bay Cheo Reo; cụm pháo của Trung đoàn 48 bắt đầu phát huy hoả lực, pháo 85mm cùng xe tăng tiêu diệt các ổ đề kháng của địch, chi viện cho bộ binh liên tiếp đánh chiếm trại Ngô Quyền, ty cảnh sát, tiền khu quân sự và đến sáng ngày 19 tháng 3 quân ta làm chủ hoàn toàn Cheo Reo, bắt gọn 6 liên đoàn biệt động, 3 thiết đoàn xe tăng, 6 tiểu đoàn pháo 155mm và l05mm; 3 tỉnh Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng.

Đây là trận tác chiến hiệp đồng quy mô lớn, diễn biến phức tạp, nhiều nhiệm vụ bắn ngoài kế hoạch, trên một chính diện rộng, tung thâm sâu; địa hình rừng núi, đường sá ít nhưng do có sự chuẩn bị chu đáo, xây dựng lực lượng pháo đủ cho các cấp trước chiến dịch nên pháo binh ta đã phát huy mạnh mẽ sức mạnh hoả lực của mình.

Trong việc tổ chức các cụm pháo, ta rất linh hoạt như cụm pháo chiến dịch trong 2 đòn hoả lực 1 và 2, Bộ chỉ huy luôn luôn nắm quyền sử dụng đến khi quân địch rút chạy, Bộ chỉ huy đã nhanh chóng chuyển thuộc tất cả cho các sư đoàn sử dụng do đó việc hiệp đồng tác chiến bộ – pháo kịp thời chắc chắn và hiệu quả. Về cách bắn luôn coi trọng lối bắn trực tiếp của pháo xe kéo đi cùng bộ binh, xe tăng trong chiến đấu tiến công, đây cũng là truyền thống đẹp sử dụng pháo xe kéo của mặt trận Tây Nguyên.

Lữ văn ( Luợc thuật)

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.