Lưu trữ

Archive for the ‘Kháng chiến chống Pháp’ Category

Sư đoàn 308

Tháng Chín 25, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QĐND Online - Đại đoàn 308 trước đây, Sư đoàn 308 ngày nay, là sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập ngày 28/8/1949 tại thị trấn Đồn Đu thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, từ những đơn vị Cứu quốc quân, những đại đội, tiểu đoàn được thành lập trong những ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, những đơn vị thiện chiến, có bề dày truyền thống chiến đấu.

Trước khi về tiếp quản thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Đền Hùng, tại đây người căn dặn cán bộ, chiến sĩ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”.

Ngay sau lễ thành lập, Đại đoàn đã có những trận đánh và lập công xuất sắc đầu tiên trên mặt trận Trung Du và Đường số 4. Ngày 29/8, tiểu đoàn 29 chặn đánh địch ở vùng núi Đanh – Hữu Thủ (Vĩnh Yên), diệt hơn 100 địch và 30 tên khác bị thương. Tiếp đó, tiểu đoàn phối hợp với tiểu đoàn 80 thuộc Trung đoàn Bắc Bắc (Trung đoàn 36) tác chiến tại Lai Sơn, Thanh Vân, Đạo Tú, diệt gần 400 tên, làm bị thương 100 tên khác, bẻ gãy hoàn toàn cuộc hành quân Canigu của quân Pháp. Ngày 3/9 tiểu đoàn 23 tiến hành trận phục kích lớn tại đèo Lũng Phầy trên đường số 4, phá hủy 86 xe cơ giới, diệt và bắt hơn 200 tên địch. Sau trận này tiểu đoàn 23 được mang danh hiệu vẻ vang “Tiểu đoàn Lũng Phầy”.

Trong chiến dịch Biên Giới (thu đông 1950), lần đầu tiên Đại đoàn 308 ra quân với đầy đủ quân số. Đại đoàn là lực lượng chiến đấu chủ yếu trong chiến dịch, được trang bị nhiều loại phương tiện thông tin liên lạc nên mọi mệnh lệnh, chỉ thị của các cấp chỉ huy đều được truyền đạt kịp thời, nhanh chóng và chính xác. Các tiểu đoàn và đại đội đã chủ động phối hợp tác chiến, sáng tạo nhiều cách đánh táo bạo, góp phần chủ yếu tiêu diệt hai binh đoàn Lơ Pagiơ và Sactông của Pháp.

Trong chiến dịch Trung Du (chiến dịch Trần Hưng Đạo), Đại đoàn sử dụng một số tiểu đoàn, thực hiện chiến thuật “bôn tập” từ vị trí tập kết vượt khoảng cách từ 15 đến 20 km, bất ngờ tập kích các cứ điểm của địch trên khu vực tiếp giáp giữa Bắc Ninh, Phúc Yên, Vĩnh Yên. Đây là lần đầu tiên Đại đoàn 308 đánh địch ở địa hình trống trải, nơi máy bay, pháo binh cũng như xe tăng và quân dù của địch phát huy được tác dụng. Cán bộ và chiến sĩ Đại đoàn đã nêu cao tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh, dũng cảm chiến đấu, hiệp đồng tác chiến, nên đã làm tròn nhiệm vụ trong cả hai đợt của chiến dịch.

Sau chiến dịch Trung Du, Đại đoàn 308 lại liên tiếp tham gia các chiến dịch Đường số 18 (chiến dịch Hoàng Hoa Thám), chiến dịch Hà Nam Ninh (chiến dịch Quang Trung), chiến dịch Hòa Bình, chiến dịch Tây Bắc và chiến dịch Thượng Lào. Trải qua chiến đấu, các đơn vị tham gia các chiến dịch trưởng thành vượt bậc. Nhiều đơn vị trong Đại đoàn vận dụng thành công nhiều hình thức tác chiến như đánh cứ điểm mạnh, phục kích chặn đường sang sông, tập kích và hoạt động nhỏ lẻ, thu được nhiều kinh nghiệm quý báu và lập được nhiều chiến công. Trong chiến đấu, nhiều gương dũng cảm, mưu trí đã xuất hiện, cổ vũ mạnh mẽ phong trào thi đua giết giặc lập công.

Mùa hè năm 1953, Đại đoàn 308 trở về Thái Nguyên. Trải qua bảy chiến dịch lớn, bước chân của cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn đã đi hầu khắp các chiến trường ở Bắc Bộ và Thượng Lào. Ở các địa phương. Khi tiếp xúc với đồng bào các dân tộc, cán bộ và chiến sĩ Đại đoàn luôn luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, xóa nạn mù chữ, xây dựng cuộc sống mới… Ở đâu họ cũng để lại ấn tượng tốt đẹp. Mới bốn năm kể từ ngày thành lập, Đại đoàn 308 đã trở thành một đơn vị chủ lực dày dạn trong chiến đấu, được nhân dân yêu mến, các đơn vị bạn tin tưởng.

Bước vào chiến cuộc đông-xuân 1953-1954, Đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ phối hợp với quân đội Pe-thét Lào mở cuộc tiến công chiến lược vào phòng tuyến sông Nậm Hu của địch ở Thượng Lào. Trong cuộc tiến công này, Đại đoàn 308 đã tỏ rõ tinh thần kỷ luật cao, khắc phục khó khăn gian khổ, quên mình vì sự nghiệp cách mạng, nêu cao vai trò của một binh đoàn bộ binh chủ lực cơ động trong đánh vận động truy kích, tiêu diệt địch trên chiến trường rừng núi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Bộ Chỉ huy mặt trận giao.

Hơn một tháng hành quân chiến đấu liên tục trên chiến trường nước bạn, Đại đoàn đã phối hợp cùng bạn tiêu diệt một tiểu đoàn quân Lê dương và nhiều quân ngụy Lào, đánh tan hai tiểu đoàn quân ngụy và tiểu đoàn quân Ta-bo (Bắc Phi) thứ năm, bắt sống 300 tù binh, thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng. Phòng tuyến sông Nậm Hu của địch bị phá vỡ. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị cô lập hoàn toàn.

Ngày 18/2/1954, Đại đoàn được lệnh quay về tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong chiến dịch vĩ đại này, mặc dù gặp hoàn cảnh không thuận lợi, vừa phải chịu nhiều tổn thất trong cuộc tiến công chiến lược giải phóng lưu vực sông Nậm Hu, nhưng cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng cảm, kỷ luật, sáng tạo, vượt lên mọi khó khăn thử thách ác liệt, hiệp đồng cùng các đơn vị bạn trên toàn mặt trận, thực hiện đánh công kiên, đánh hiệp đồng binh chủng qui mô lớn trong một thời gian dài. Mở đầu là trận tiêu diệt địch ở đồi Độc Lập, rồi bức hang địch ở đồi Bản Kéo góp phần đập tan tấm lá chắn phía bắc. Tiếp đó, với trận chiến đấu quyết liệt trên đồi A1, Đại đoàn tham gia cùng các đơn vị bạn phá vỡ khu phòng ngự phía đông của tập đoàn cứ điểm địch. Vừa đánh địch phản kích, vừa góp sức xây dựng trận địa tiến công bao vây, Đại đoàn phụ trách toàn bộ nhiệm vụ tác chiến khu vực phía tây, đẩy địch vào thế khốn quẫn, cuối cùng đã tham gia vào đợt tiến công thứ ba, đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, góp phần làm nên một “Điện Biên Phủ chấn đông địa cầu”, tạo chuyển biến lớn trong cục diện quân sự và chính trị ở Đông Dương.

Gương chiến đấu anh dũng của Nguyễn Quốc Trị, Chu Văn Mùi, Nguyễn Văn Ty, Trần Đình Hùng, Bùi Quang Mại, Nguyễn Hùng Sinh,… càng làm rạng rỡ thêm truyền thống của Đại đoàn.

Tám năm chiến đấu liên tục. Năm năm đánh lớn tập trung. Thời gian chưa dài. Nhưng các chiến sĩ Quân Tiên Phong đã đánh hàng trăm trận trong hàng chục chiến dịch trên chiến trường chính Bắc Bộ và nước bạn Lào, luôn luôn đi đầu trong tác chiến qui mô lớn, nêu cao vai trò của một Đại đoàn chủ lực cơ động trong chiến tranh giải phóng. Tự hào với bề dày thành tích chiến đấu và truyền thống Quân Tiên Phong, cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 vững bước vào thời kỳ xây dựng, chiến đấu mới.

Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, Đại đoàn 308 bước vào thực hiện nhiệm vụ mới, vừa chấn chỉnh, xây dựng lực lượng, vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ công cuộc lao động xây dựng đất nước, tham gia sản xuất, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh.

Thực hiện kế hoạch xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại, ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, Tổng Quân ủy chủ trương chấn chỉnh tổ chức biên chế và trang bị cho toàn quân. Cùng với các đại đoàn chủ lực của Bộ, Đại đoàn 308 đổi tên là Sư đoàn bộ binh 308. Sư đoàn có 3 trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo hỗn hợp và các đại đội binh chủng trực thuộc. Đồng thời với việc chỉnh biên, Sư đoàn tiến hành nhiều đợt học tập chính trị, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, điều lệnh, điều lệ cho cán bộ các cấp và chiến sĩ theo chương trình thống nhất của toàn quân. Nhờ đó trình độ giác ngộ chính trị và ý thức giai cấp, cũng như trình độ hiểu biết kỹ thuật, chiến thuật của cán bộ, chiến sĩ được nâng cao.

Có thể nói, qua quá trình xây dựng, rèn luyện, tiến lên chính qui hiện đại, tham gia xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, Sư đoàn 308 đã nêu cao vai trò đơn vị chủ lực cơ động chiến lược của Bộ và phát huy truyền thống Quân Tiên Phong, đã trưởng thành về nhiều mặt, đặc biệt là về tổ chức chỉ huy, lãnh đạo, nề nếp chế độ chính quy và trình độ kỹ thuật, chiến thuật trong tác chiến hiệp đồng binh chủng, góp phần đắc lực vào nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc,chống chiến tranh phá hoại, chi viện cho chiến trường miền Nam, tích cực lao động sản xuất, giúp dân chống thiên tai, thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, công tác và sản xuất. Sư đoàn thường xuyên được Bộ giao nhiệm vụ thực hiện thí điểm về biên chế tổ chức, trang bị vũ khí, cũng như huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, phục vụ cho toàn quân. Nhờ đó, Sư đoàn đã trưởng thành nhanh chóng, vững chắc, xây dựng sư đoàn chủ lực cơ động chính qui, hiện đại phù hợp với tình hình cụ thể của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ năm 1968, cùng với toàn quân, toàn dân, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 sẵn sàng lên đường lập chiến công mới.

Trong chiến dịch tiến công Đường số 9 – Khe Sanh (xuân-hè 1968), Sư đoàn 308 vinh dự tham gia chiến đấu và lập chiến công trong đợt 4 chiến dịch. Đây là lần đầu tiên Sư đoàn trực tiếp đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam. Hơn một tháng tham gia chiến dịch, Sư đoàn đã đánh hàng chục trận, quy mô từ đại đội đến tiểu đoàn, nhiều trận chủ động đánh địch ban ngày, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên lính thủy đánh bộ Mỹ, bắn rơi 39 máy bay, phá hủy 11 khẩu pháo, cối các loại cùng nhiều vũ khí, khí tài của địch. Chiến thắng giành được trong chiến dịch tiến công Đường số 9 – Khe Sanh đã chứng tỏ một bước trưởng thành mới của Sư đoàn sau 14 năm xây dựng. Sư đoàn đã chiến đấu trực tiếp với quân chủ lực tinh nhuệ có trang bị vũ khí hiện đại của đế quốc Mỹ, lập chiến công vẻ vang.

Trong chiến dịch phản công Đường số 9 – Nam Lào (xuân 1971), cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 308 đã chiến đấu liên tục trong suốt cả 52 ngày đêm của chiến dịch, tiêu diệt 4.023 tên địch, bắt 127 tên, diệt gọn thiết đoàn 17 và 4 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng liên đoàn 1 biệt động quân và tiểu đoàn 1 dù của địch, phá hủy 337 xe các loại (có 205 xe tăng và xe bọc thép, 48 khẩu pháo, cối cỡ lớn, thu gần 500 súng các loại, cùng hàng chục tấn vũ khí đạn dươc, trang bị kỹ thuật.

Chiến công của Sư đoàn trong chiến dịch này là thành quả của quá trình huấn luyện gian khổ, sáng tạo. Qua chiến dịch, Sư đoàn đã trưởng thành thêm một bước quan trọng, rút ra nhiều bài học bổ ích về cách đánh địch tiến công và phòng ngự bằng hình thức đóng chốt trên điểm cao, về cách tổ chức chốt giữ những mục tiêu chiến dịch, chiến thuật trong phòng ngự, cũng như trong tiến công, làm phong phú thêm truyền thống chiến thắng của Sư đoàn.

Tham gia trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường Trị- Thiên, Sư đoàn đã lập công xuất sắc, tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Hà – Lai Phước, góp phần giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.

Trận Đông Hà – Lai Phước được coi là điểm mốc lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc. Đây là một trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của quân đội ta từ trước đến lúc này. Trong đợt 2 chiến dịch, Sư đoàn 308 cùng các đơn vị tăng cường, trong thế tiến công chung của chiến dịch Quảng Trị, đã anh dũng chiến đấu, vận dụng cách đánh tốt, đạt hiệu quả cao, đập tan cụm cứ điểm kiên cố có binh lực tương đương một sư đoàn binh chủng hợp thành của quân đội Sài Gòn, được không quân và pháo hạm Mỹ chi viện.

Trong trận này, Sư đoàn 308 và các đơn vị tăng cường đã diệt 3.500 tên địch, bắt 322 tên, phá hủy 110 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 45 máy bay, thu 5 pháo lớn và nhiều xe quân sự, làm tan rã 3 trung đoàn bộ binh, 2 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp địch, đánh bại thủ đoạn phòng ngự mới của chúng, giáng một đòn nặng vào tinh thần quân Mỹ và quân đội Sài Gòn trên toàn chiến trường miền Nam.

Sau thắng lợi vang dội trong trận Đông Hà – Lai Phước, Sư đoàn lại có gần một năm liên tục chiến đấu kiên cường với nhiều cách đánh sáng tạo, đặc biệt là hình thức chiến thuật phòng ngự cụm chốt liên hoàn nên đã góp phần cùng các đơn vị bạn bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Quảng Trị.

Tổng cộng, sau gần một năm chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị với nhiều đợt kế tiếp, Sư đoàn đã đánh gần 800 trận lớn nhỏ từ một tổ, một tiểu đội đến tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn tăng cường, diệt và bắt hơn 10.000 tên địch, phá hủy và thu 151 xe tăng thiết giáp, 17 khẩu pháo từ 105 ly đến 155 ly, bắn rơi 23 máy bay các loại.

Tuy nhiên, tại Quảng Trị, Sư đoàn cũng chịu nhiều tổn thất lớn; kể từ khi bước vào chiến đấu cho đến khi kết thúc chiến dịch; hơn 70% cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn theo biên chế hy sinh và bị thương. Nhiều đại đội, tiểu đoàn phải thay thế cán bộ chỉ huy từ 6 tới 7 lần. Có đại đội khi kết thúc chiến dịch không còn lại một ai là cán bộ, chiến sĩ cũ có mặt từ đầu cuộc tiến công chiến lược (năm 1972).

Sư đoàn 308 đã góp phần xứng đáng vào chiến công chung của quân và dân ta trên mặt trận Quảng Trị cũng như toàn chiến trường miền Nam, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút quân về nước, đưa sự nghiệp cách mạng miền Nam chuyển sang một giai đoạn mới.

Ngày 24/10/1973, trước yêu cầu của giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân đoàn 1 – quân đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Quân đội ta được thành lập. Sư đoàn 308 vinh dự được đứng trong đội hình Quân đoàn.

Năm 1974, trong đội hình Quân đoàn 1, với quyết tâm “Xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, có sức chiến đấu cao, sức cơ động lớn, sức đột kích mạnh” và khẩu hiệu hành động “Toàn quân là một trường huấn luyện”, Sư đoàn bước vào khóa huấn luyện mới. Sau khi học tập chiến thuật, kỹ thuật cấp đại đội và tiểu đoàn, Sư đoàn liên tục tổ chức các cuộc diễn tập thực binh, diễn tập cơ quan tham mưu, chỉ huy hai cấp, ba cấp và tham gia nhiều cuộc diễn tập hiệp đồng binh chủng do Quân đoàn tổ chức.

Mùa xuân năm 1975, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta Tổng tiến công và nổi dậy đập tan quân đội và chính quyền Sài Gòn. Sư đoàn 308 vừa triển khai lực lượng bảo vệ thủ đô Hà Nội và hậu phương miền Bắc, vừa sẵn sàng cơ động thần tốc bằng cả đường bộ, đường thủy và đường không vào chiến trường khi nhiệm vụ cần thiết. Sư đoàn đã giữ được bí mật tuyệt đối, hoàn thành nhiệm vụ của “Sư đoàn cận vệ” trong thế trận chung của cả nước và nhiệm vụ nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch.

Có thể khẳng định, trong giai đoạn cuối của thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, được giao nhiệm vụ chiến đấu trong những chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, Sư đoàn 308 đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, lập nên những chiến công oanh liệt trong chiến dịch Đường số 9 – Khe Sanh (1968), chiến dịch Đường số 9 – Nam Lào (1971), chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị (1972), đặc biệt đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm lực lượng dự bị chiến lược của Bộ, là “hướng tiến công thứ sáu” trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc, đưa đất nước ta bước vào một thời kỳ mới – thời kỳ cả nước cùng xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sau khi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tham gia cuộc duyệt binh trọng thể mừng Quốc khánh lần thứ 30, mừng Đại thắng mùa xuân, mừng nước nhà thống nhất tổ chức vào sáng 2/9/1975 trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, ngày 15/1/1976 Sư đoàn 308 lại có vinh dự được Chủ tịch Nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vì đã lập được nhiều chiến công, thành tích vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Vinh dự lớn cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn không ngừng phấn đấu vươn lên trong nhiệm vụ xây dựng chính quy, hiện đại, tích cực tham gia lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc thân yêu.

Sau hơn 30 năm chiến tranh giải phóng, đất nước ta vừa có hòa bình, nhân dân ta vừa bước vào khôi phục kinh tế, xây dựng đất nước trong một thời gian ngắn thì một cuộc chiến tranh mới lại bùng nổ ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc.

Cùng với toàn quân, Sư đoàn 308 đã nhanh chóng chuyển mọi hoạt đông sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Toàn sư đoàn khẩn trương sắp xếp lực lượng, mở lớp đào tạo gấp gần 400 cán bộ trung đội, tiểu đội, ổn định biên chế tổ chức các đơn vị, triển khai huấn luyện bộ đội sát với đối tượng tác chiến mới, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu.

Trong thế trận chiến tranh nhân dân của cả nước, Sư đoàn 308 đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, bảo vệ hậu phương chiến lược, sẵn sàng tăng cường cho phía trước ở thời điểm quyết định, góp phần vào chiến thắng chung, bảo vệ chế độ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Trong những năm thực hiện nhiệm vụ xây dựng sư đoàn bộ binh cơ giới, toàn Sư đoàn đã kết thành một khối vững vàng trong sự quan tâm chăm sóc của Đảng, Nhà nước, sự thương yêu đùm bọc của nhân dân, đạp bằng mọi khó khăn thử thách, kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ khác được cấp trên giao phó.

Ngày nay trong giai đoạn cách mạng mới, tiếp tục đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, kiên trì đường lối đổi mới, tự hào và phát huy cao độ lịch sử và truyền thống của mình, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 đang quyết tâm xây dựng Sư đoàn “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân hoàn thành xuất sắc hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Với những chiến công bất tử , những thành tích vẻ vang của một sư đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, Sư đoàn 308 – Sư đoàn Quân Tiên Phong luôn là niềm tự hào, tin tưởng của quân và dân ta, là nỗi khiếp sợ của kẻ thù. Sư đoàn vinh dự được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông hội… đỡ đầu, động viên, chăm sóc. Với lịch sử chiến đấu, xây dựng vẻ vang, Sư đoàn 308 thực sự là trường học lớn, giáo dục rèn luyện nhiều lớp cán bộ, chiến sĩ trung thành, mưu lược, dũng cảm, gương mẫu, nhiều cán bộ, chiến sĩ vinh dự được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiều đồng chí trở thành tướng lĩnh, cán bộ cao cấp ở các cơ quan chiến lược, nhà nghiên cứu khoa học quân sự, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội – nhân văn, những văn nghệ sĩ, đảm nhận nhiều trọng trách ở các cơ quan Nhà nước và Quân đội.

Trong gần 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 đã xây dựng nên truyền thống vô cùng tốt đẹp. Đó là:

Tiên phong, gương mẫu, đi đầu trong chiến đấu cũng như trong xây dựng: Trong chiến đấu, Sư đoàn thường được giao nhiệm vụ đánh những trận then chốt ở hướng chủ yếu của các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược trên các chiến trường; đánh lớn, đánh tập trung vào những nơi địch rất mạnh; đột phá vào những nhiệm vụ quan trọng nhất, nặng nề nhất, ở những nơi hiểm yếu khó khăn nhất. Bởi vậy những thắng lợi Sư đoàn giành được thường có ý nghĩa quyết định, cung cấp cho toàn quân những kinh nghiệm chiến đấu quý báu. Trong xây dựng lực lượng, Sư đoàn luôn được chọn làm đơn vị xây dựng điểm, huấn luyện mẫu đi trước một bước về chiến thuật, kỹ thuật, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, rút kinh nghiệm cho toàn quân.

Tiên phong và Quyết thắng, Sư đoàn 308 đã ra quân là tiến công dũng mãnh, phòng ngự kiên cường, mưu trí, linh hoạt, cơ động thần tốc, chiến đấu và chiến thắng với tinh thần anh dũng lập công, mưu trí sáng tạo, phát huy trí tuệ tập thể, đạt hiệu suất cao. Dù hy sinh, tổn thất, dù khó khăn gian khổ, ác liệt đến mấy cũng kiên quyết vượt qua, hoàn thành nhiệm vụ.

Kỷ luật nghiêm minh và tự giác, kiên quyết triệt để chấp hành mệnh lệnh vô điều kiệnlà truyền thống nổi bật của Sư đoàn 308. Trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống dù khó khăn, nguy hiểm; dù có thời gian hay không có thời gian chuẩn bị chiến đấu; dù địa hình, thời tiết khắc nghiệt; quân số, vũ khí thiếu hay đủ, các mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên đều được thi hành nghiêm túc, triệt để.

Đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế là truyền thống tốt đẹp và là nguồn sức mạnh to lớn, đưa đến chiến công và thành tích của Sư đoàn 308. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, bình đẳng về chính trị, thương yêu và tương trợ lẫn nhau trên tình đồng chí, đồng đội, khó khăn cùng vượt, vinh dự cùng chia, đoàn kết gắn bó, lúc còn trong quân ngũ cũng như khi phục viên, nghỉ hưu hay chuyển ngành.

Trên chiến trường, dù độc lập tác chiến hay đứng trong đội hình quân đoàn, đội hình chiến dịch, Sư đoàn luôn đoàn kết hiệp đồng chiến đấu với các đợn vị bạn, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, cùng nhau phối hợp hành động, lập chiến công chung.

Là con em của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Sư đoàn 308 luôn được nhân dân yêu mến, giúp đỡ và phối hợp chiến đấu. Với tinh thần “Vì nhân dân quên mình…” và thực hiện quan hệ “Quân dân cá nước”, “Quân với dân một ý chí”.

Sư đoàn luôn nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, coi giúp bạn là tự giúp mình”, tranh thủ sự giúp đỡ của các chuyên gia bạn. Nhiều cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã anh dũng hy sinh hoặc để lại một phần thân thể trong khi làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn.

Truyền thống vẻ vang của Sư đoàn được khái quát trong 14 chữ vàng:

Tiên phong, anh dũng, đoàn kết, kỷ luật, thần tốc, quyết chiến quyết thắng.

Truyền thống vẻ vang ấy được thể hiện tập trung ở danh hiệu Quân Tiên Phong, luôn đi đầu trong chiến đấu, trong xây dựng lực lượng, trong lao động sản xuất. Đó cũng là vinh dự, đồng thời là trách nhiệm nặng nề của Sư đoàn 308.

Đăng Vinh

qdnd.vn

Chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3/1954 – 7/5/1954)

Tháng Tư 11, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Bước sang năm thứ 8 của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược, giặc Pháp đã ở vào thế phòng ngự, nhất là trên chiến trường Bắc Bộ. Nhận thấy không thể thắng trong cuộc chiến tranh này, giặc Pháp đã đưa ra kế hoạch Nava nhằm bình định Việt Nam trong 18 tháng, để tạo thế mạnh tiến tới một giải pháp thương lượng có lợi cho chúng.

Về phía ta, với những đòn tiến công và phản công trên các hướng Tây Bắc, Tây Nguyên – Duyên hải Trung Bộ, Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào, trong Đông Xuân 1953-1954, ta đã buộcđịch phải phân tán lực lượng cơ động trên khắp chiến trường, trong khi đó ta tập trung chủ lực về hướng Tây Bắc.

Nhạy cảm trước ý đồ chiến lược của ta, địch liền tăng cường lực lượng, biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, buộc ta phải chấp nhận chiến đấu nếu muốn giải phóng Tây Bắc. Nhận định đây là một cơ hội lớn để tiêu diệt sinh lực địch, ta quyết định mở chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ. Trong bối cảnh đó, chiến trường này đã trở thành điểm quyết chiến chiến lược nóng bỏng của cả hai bên.

Ta chủ trương chuẩn bị kỹ lưỡng, đánh chắc, tiến chắc, vì sau khi địch đã kịp thời tăng cường lực lượng, thiết kế phòng ngự vững chắc, khả năng đánh nhanh, thắng nhanh trở nên hạn chế.

Sau khi hoàn thành các công tác chuẩn bị, ngày 13/3, ta nổ súng tiến công tuyến phòng ngự vòng ngoài, bao gồm các cụm cứ điểm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Ngày 13/3, các Trung đoàn 141 và 209 (Đại đoàn 312) đã tiêu diệt các cụm cứ điểm Him Lam; ngày 14/3, các Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) và 165 (Đại đoàn 312) đã tiêu diệt cụm cứ điểm Độc Lập; ngày 17/3, kết hợp tiến công với lực lượng địch phản chiến, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) làm chủ cứ điểm bản Kéo. Sau 5 ngày, ta đập tan tuyến phòng ngự vòng ngoài, mở thông cửa vào khu phòng ngự trung tâm, diệt và bắt sống hơn 2.000 tên địch.

Từ ngày 30/3, ta mở đợt tiến công lần thứ hai, nhằm vào các cao điểm phía Đông Mường Thanh (phân khu trung tâm). Các đại đoàn của ta đã nhanh chóng chiếm được một số cứ điểm, nhưng những trận chiến đấu quyết liệt giành giật giữa đôi bên đã diễn ra tại khu vực tác chiến của Đại đoàn 316 trên các điểm cao A1, C1. Suốt trong tháng 4, ta và địch đã giành đi giật lại từng khu vực trên các điểm cao có ý nghĩa chiến thuật quan trọng khống chế phân khu trung tâm. Giữa tháng 4, ta tiến chiếm sân bay Mường Thanh, cắt đứt cầu hàng không là đường tiếp tế quan trọng nhất của địch. Chúng lâm vào thế nguy khốn, bị tiến công trong tình trạng hậu cần ngày càng trở nên khó khăn.

Từ l/5, có ba hướng: Đông, Tây, Đông Bắc, các đại đoàn của ta mở cuộc tiến công cuối cùng vào Điện Biên Phủ. Ngày l/5, Đại đoàn 316 chiếm đồi C1; sáng 7/5, ta diệt các cứ điểm C2, A1, 507, là những cứ điểm kiên cố cuối cùng của địch. Chiều 7/5, ta tổng công kích trên toàn bộ mặt trận và đến chiều, ta đã hoàn toàn giải phóng Điện Biên Phủ, cầm giữ tại chỗ hơn 10 nghìn tên địch cùng với tướng chỉ huy De Castries của chúng.

Những phát triển của nghệ thuật quân sự

Điện Biên Phủ là một chiến dịch chiến lược mà tầm vóc tác động của nó đến cục diện hai bên đã không một chiến dịch nào đạt tới trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó trước hết là do quyết tâm chiến lược sáng suốt trong việc lựa chọn hướng tiến công với một tinh thần quyết chiến rất cao. Đó cũng là nghệ thuật tài giỏi trong việc tiến hành các bước chuẩn bị và trong sử dụng lực lượng. Về nghệ thuật tác chiến, đột phá lần lượt cụm cứ điểm địch là một phương pháp kinh điển, cũng đồng thời là giải pháp đúng đắn trong chiến dịch tiến công để giải quyết một tập đoàn cứ điểm. Ta đã trưởng thành vượt bậc trong đánh công sự vững chắc, trong đó sự chỉ đạo chiến thuật là rất linh hoạt, cụ thể và sáng tạo. Cách đánh trong chiến dịch tiến công này đã dẫn đến thắng lợi từng bước, tất yếu, không thể đảo ngược. Theo VN

Sư đoàn 320 với Tổng tiến công Mùa Xuân 1975 (Phần 2)

Tháng Tư 3, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Chốt cứng lợi hại

Phía nam Cheo Reo, hướng vị trí chốt chặn của tiểu đoàn 9. Đối tượng chính của tiểu đoàn là đội hình xe tăng, xe thiết giáp của địch đang tìm mọi cách tràn qua khu vực chốt chặn.

Sau hơn một đêm hành quân xuyên rừng, nhịn đói nhịn khát, cả tiểu đoàn đã mệt lử. Nhưng kẻ địch đang ùn ùn tháo chạy trước mặt. Không thể dừng lại nghỉ ngơi, theo mệnh lệnh của chỉ huy tiểu đoàn, đại đội 9, đại đội 10 triển khai đội hình ngay trên mặt đường, xông thẳng vào đội hình xe tăng, thiết giáp dày đặc của địch, vừa đánh vừa chiếm vị trí có lợi, hình thành những điểm chốt chặn. Đại đội 11 bố trí phía sau để sẵn sàng cơ động chi viện cho cả hai hướng.

Những trận đánh diễn ra rất ác liệt giữa bên ta kiên quyết chốt chặn và quân địch đường cùng, tìm mọi cách tháo thân. Địch lợi dụng vỏ thép dày, khả năng cơ động cao, cùng đường “dũi” bừa vào tất cả mọi nơi, mọi lúc hòng tràn qua đội hình chốt chặn của ta. Trong đêm, chúng phối hợp với trực thăng rọi đèn pha, C130 thả pháo sáng, tung mọi lực lượng, sử dụng hỏa lực tối đa, mở đường máu. Tất cả các bộ phận của tiểu đoàn 9 từ cán bộ chỉ huy đến nuôi quân, y tá, thông tin, trinh sát… đều trực tiếp đối mặt với xe tăng địch. Trên toàn tuyến, các tổ đánh xe đều hăm hở lập công.

Đến sáng 18 tháng 3, không một chiếc xe tăng, xe thiết giáp nào của địch lọt qua tuyến chốt chặn của tiểu đoàn 9. Xe địch bị bắn cháy nằm bẹp trên đường, trên cầu, có chiếc bị bắt sống, đường tháo chạy của đoàn quân địch hoàn toàn tắc nghẽn. Một số lượng lớn quân địch vẫn còn bị nhốt chặt ở thung lũng Cheo Reo.

Cũng trong đêm 17 tháng 3, toàn bộ đội hình trung đoàn 64 đã về đến nam Cheo Reo, cùng với tiểu đoàn 9 đánh địch. Ngày 18 tháng 3, khi trung đoàn 48 tiến công vào thị xã, toàn bộ đội hình lớn của địch bị vỡ bung, nhưng vẫn không tên địch nào thoát qua được tuyến chốt chặn của trung đoàn 64.

Chiều 18 tháng 3, xe tăng và ô tô địch đậu ken dày bên nhau trong thung lũng Cheo Reo, khu vực thị xã và sân bay. Những đoàn xe hàng ngàn chiếc đang nối đuôi nhau, ùn tắc trên bãi sông, trên những đoạn đường phía nam thị xã. Những cột khói bốc cao từ những chiếc xe M113, M48 đang cháy, suốt dọc con đường số 7, kéo dài đến tận chân đèo Tu Na.

Đánh chiếm thị xã khi địch còn hoảng loạn

Pháo binh của Sư đoàn đã triển khai xong, nhưng đạn chưa đến được nhiều. Sư đoàn vẫn quyết định khai hỏa. Ngay từ quả đạn đầu tiên, pháo ta đã đánh trúng khu vực sân bay khiến quân địch vô cùng hoảng loạn.

16 giờ 30 phút, ngày 18 tháng 3, phát hiện dấu hiệu địch bỏ cả xe, pháo bung ra rừng tháo chạy; Bộ tư lệnh sư đoàn lệnh cho trung đoàn 48 sử dụng tiểu đoàn 2 đánh thẳng vào khu sân bay, tiểu đoàn 1 từ hướng tây bắc đánh vào trại Ngô Quyền; sau đó hợp vây lần lượt đánh chiếm các mục tiêu trong thị xã. Đồng thời ra lệnh cho trung đoàn 64 chú ý đón đánh địch trong thị xã bung ra và lưu ý có thể sẽ phải chiến đấu ác liệt với địch khi chúng mở đường máu tháo chạy.

Tại khu vực sân bay và trung tâm thị xã, tiểu đoàn 2, trung đoàn 48 chỉ trong một thời gian ngắn đã hoàn thành đột phá và phát triển chiến đấu, làm chủ sân bay. Tiểu đoàn 2 được lệnh phát triển vào thị xã. Lực lượng địch tuy hỗn loạn, hoang mang nhưng rất đông. Đêm ập xuống, thị xã hoàn toàn mất điện. Liên lạc giữa các mũi, hướng, giữa cấp trên và cấp dưới chỉ thực hiện được bằng vô tuyến điện. Trong đêm, các phân đội vừa đánh, vừa bắt tù binh, vừa trinh sát nắm địch, lần từng bước vào khu trung tâm. Trung đoàn 48 bắt được số tù binh gấp nhiều lần quân số của mình; tới mức không còn lực lượng để đưa tù binh về phía sau, phải tạm trói và nhốt chúng trong các khu nhà, chờ sáng sẽ giải quyết.

Đến 24 giờ ngày 18 tháng 3, do tình hình ngày một phức tạp, bắt liên lạc trong đêm ngày một khó khăn; sư đoàn lệnh cho trung đoàn 48 tạm dừng củng cố để ngày mai tiếp tục đánh. Đó cũng là lúc các chiến sĩ ta đã làm chủ hoàn toàn những khu vực chính của thị xã.

Sang ngày 19 tháng 3, trên hướng trung đoàn 64, cuộc chiến đấu lại bước vào giai đoạn quyết liệt. Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, quân địch điên cuồng bung ra tìm đường thoát thân. Tất cả các mũi, các hướng trên tuyến chốt chặn của trung đoàn 64 đều đối mặt với những toán địch càn rừng tháo chạy. Ở đâu, bộ đội ta cũng phải chiến đấu với quân địch đông gấp bội, vốn là những lực lượng thiện chiến, có xe tăng, xe bọc thép và đầy đủ trang bị vũ khí. Ở đâu, chiến sĩ ta cũng diệt nhiều địch, bắt nhiều tù binh, bắn cháy và bắt sống xe tăng, xe bọc thép của địch. Tàn quân địch tản ra khắp núi, khắp rừng. Suốt ngày, các chiến sĩ trung đoàn 64, trung đoàn 48 tiếp tục truy quét, lôi ra từng dây các loại lính chính quy, lính địa phương của Quân đoàn 2 ngụy.

Đêm 19 tháng 3, Đảng ủy và Bộ tư lệnh sư đoàn nhận định: ta đã cơ bản tiêu diệt quân ngụy tháo chạy ở Tây Nguyên (trừ liên đoàn 6 biệt động quân và một bộ phận thiết đoàn 19 vượt qua trước), loại khỏi vòng chiến đấu hơn 4000 tên địch, bắt sống 3000 tên, có nhiều sĩ quan, thu và phá hủy hầu hết trang bị và phương tiện của quân đoàn 2 ngụy. Tuy vậy, còn một bộ phận khá lớn bộ binh, cơ giới địch tháo chạy trước do ta ra cắt đường muộn. Hành động tiếp theo của Sư đoàn là dùng trung đoàn 64 và lực lượng thiết giáp tăng cường nhanh chóng vượt lên tổ chức tiến công chặn địch lại. Nếu chúng co cụm chống cự thì bao vây chặt, tích cực tiêu hao địch chờ lực lượng cơ động của sư đoàn đến cùng tiến công tiêu diệt. Sư đoàn chỉ để lại trung đoàn 95B tăng cường ở lại Cheo Reo thu dọn chiến trường, giải quyết hậu quả, còn trung đoàn 48 và trung đoàn 9 phải lập tức cơ động ngay sau trung đoàn 64 để kịp thời phối hợp hành động.

Trong thời gian đó, một bộ phận địch đã vượt qua Cheo Reo (do ta không kịp cắt đường), nhưng bị bộ đội địa phương đánh chặn, đã dừng lại, hình thành thế co cụm lớn ở Củng Sơn. Chúng đưa lực lượng về phía Tây và dùng phi pháo ngăn chặn ta. Sư đoàn nhận địch: địch có thể còn tháo chạy tiếp hoặc có thể co cụm phòng ngự ở Củng Sơn để bảo vệ thị xã Tuy Hòa.

Trận then chốt thứ ba thắng lợi

Về phía ta, ngay trong đêm 19 tháng 3, một bộ phận của tiểu đoàn 8, trung đoàn 64, được hỗ trợ của một đại đội xe bọc thép K.63, đã kịp thời cơ động đến Củng Sơn, triển khai đội hình, nắm địch. Ngày 21 tháng 3, trung đoàn 64 tiến công trong hành tiến, giải phóng quận lý Phú Túc. Ngày 22 tháng 3, trung đoàn tiến đến sông Ca Lúi, tiêu diệt bộ phận địch chốt ở khu vực này. Ngày 23, toàn bộ đội hình trung đoàn đã đến Củng Sơn, bắt liên lạc với bộ phận đi trước của tiểu đoàn 8 và bộ đội địa phương; hình thành ngay thế bao vây quân địch ở Củng Sơn. Sư đoàn triển khai sở chỉ huy cơ bản, bám sát đội hình trung đoàn 64. Tuy nhiên, các trung đoàn khác và pháo binh vẫn còn đang cơ động trên đường. 10 giờ ngày 24 tháng 3, lực lượng tăng cường cho trung đoàn 24 vẫn chỉ có hai khẩu cối 120 đi cùng và 6 xe bọc thép K.63.

Sư đoàn dự kiến hai tình huống diệt địch ở Củng Sơn:

- Nếu địch co cụm thì trước mắt, trung đoàn 64 kết hợp với bộ đội địa phương tiếp tục bao vây và xúc tiến công tác chuẩn bị. Sư đoàn sẽ điều thêm trung đoàn 48 và binh khí kỹ thuật lên để cùng trung đoàn 64 tiêu diệt địch.

- Nếu quá trình bao vây, phát hiện địch chuẩn bị tháo chạy thì trung đoàn 64 phải tổ chức tiến công ngay, dù pháo binh và các phương tiện kỹ thuật chưa lên kịp.

11 giờ, địch ở Củng Sơn có hiện tượng chuẩn bị tháo chạy. Trung đoàn 64 đề nghị xin đánh theo phương án 2 và được sư đoàn trưởng chấp nhận. Lệnh nổ súng phát ra đúng vào lúc địch vừa thoát ly khỏi công sự, chuẩn bị tháo chạy. Ngay từ quả đạn đầu tiên, súng cối của ta đã bắn trúng, áp đảo hoàn toàn quân địch, tạo thuận lợi cho bộ binh xung phong.

Cầu phao bắc tạm của địch bị đánh sập, xe bị bắn cháy làm tắc đường, bộ binh địch ào cả xuống sông hòng thoát thân. Từ bờ nam, một đại đội bộ đội địa phương đã đón lõng; số lớn địch bơi sang bờ bên kia bị bắt gọn.

Tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 cùng xe bọc thép lao thẳng vào trung tâm quận lỵ, đánh chiếm khu hành chính và trại huấn luyện biệt kích ngụy. Một đại đội bộ đội địa phương Phú Yên lợi dụng bờ sông, tiếp cận nổ súng, phối hợp với chủ lực xung phong chiếm toàn bộ cao điểm Hòn Một, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch đang co cụm tại đó.

Cụm quân địch ở Củng Sơn, lực lượng cuối cùng của tập đoàn rút chạy của quân đoàn 2 ngụy hoàn toàn bị tiêu diệt. Trận then chốt thứ ba trên chiến trường Tây Nguyên thắng lợi. Hơn 2000 tên địch bị diệt và bị bắt, toàn bộ trang bị, vũ khí lọt vào tay quân ta, trong đó có 400 xe các loại và hơn chục khẩu pháo lớn.

Thắng lợi này đã đánh bại hoàn toàn âm mưu co cụm về đồng bằng để giữ vùng duyên hải đông dân và trù phú của Mỹ – ngụy; là cú “choáng” thứ hai sau đòn đánh Buôn Ma Thuột, gây nên chấn động lớn cho chính quyền ngụy Sài Gòn và binh lính của chúng; tạo điều kiện cho sự xuất hiện thời cơ lớn của cách mạng miền Nam.

(Còn nữa)
NGUYỄN ĐỨC (lược thuật)

Trung đoàn Thủ Đô được thành lập vào thời gian nào?

Tháng Tư 2, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Nội dung Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Đêm 19 rạng ngày 20 tháng 12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết cướp nước ta lần nữa.

Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào
Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm” (1)

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr 480-481

Chi đội Trần Phú thành lập khi nào? Biên chế tổ chức, chỉ huy khi thành lập?

Ngày 26-12-1946, thành lập Chi đội Trần Phú gồm 426 cán bộ, chiến sĩ tuyển chọn trong các tổ chức Việt kiều yêu nước ở Lào và Thái Lan. Chi đội gồm 3 đại đội, một phân đội trinh sát, một phân đội vận tải và một tiểu đoàn bộ.

Chi đội trưởng: Nguyễn Chánh.
Chính trị viên: Trần Văn Sáu.

Sau lễ thành lập, chi đội hành quân về nước tam gia chiến đấu ở Nam Bộ với tên gọi “Chi đội Hải ngoại IV”.

Trung đoàn Thủ Đô được thành lập vào thời gian nào? Biên chế tổ chức, chỉ huy của trung đoàn khi mới thành lập?

Trung đoàn Thủ đô thành lập ngày 6-1-1947. Các đơn vị Vệ quốc quân, tự vệ, công an xung phong của Liên khu I Hà Nội (khu vực quận Hoàn Kiếm ngày nay) chính thức làm lễ thành lập trung đoàn, lúc đầu mang tên “Trung đoàn Liên khu I”. Hội nghị quân sự toàn quốc (từ ngày 12 đến ngày 16-1-1947) tặng danh hiệu “Trung đoàn Thủ đô”. Biên chế ba tiểu đoàn 101, 102, 103.

Trung đoàn trưởng: Hoàng Siêu Hải.
Chính trị viên: Lê Trung Toản.
Tham mưu trưởng: Hoàng Phương.

Ngày 13-1, trung đoàn làm lễ tuyên thệ tại rạp hát Tố Như (nay là Rạp Chuông Vàng), thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô nhân dịp Tết Đinh Hợi (1947), Bác Hồ đã căn dặn những gì?

Ngày 17-1-1947, nhân dịp Tết Đinh Hợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ trung đoàn: “Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau” (1).

(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 35.

Sự kỳ diệu của chiến tranh nhân dân
Ngày 19/12/1946, trước dã tâm tái xâm lược nước ta của thực dân Pháp, “Nín nhịn đã nung nấu trong lòng dân tộc ta biết bao uất hận, nổ thành một sức mạnh xung thiên”(1). Đó là ngày mở đầu “cuộc tổng tiến công”(2), “cuộc tổng giao chiến đầu tiên”(3) của cuộc chiến tranh cách mạng đầu tiên do Đảng ta lãnh đạo.

Ngày đó đã đi vào tâm khảm mỗi người dân Việt Nam là ngày mở đầu kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp oanh liệt, đầy tự hào với bao điều không thể nào quên…

Phát động cuộc chiến đúng thời cơ

Lần đầu tiên lãnh đạo kháng chiến, nhưng từ sớm, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấu dã tâm của kẻ thù. Ngay trong Hội nghị toàn quốc của Đảng tháng 8.1945 ở Tân Trào trước tổng khởi nghĩa, Đảng đã chỉ rõ “Quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị của chúng ở Đông Dương”(4).

Để đối phó với kẻ thù mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương vừa kiên quyết kháng chiến ở miền Nam, vừa ra sức xây dựng chế độ mới, Nhà nước mới về mọi mặt, thể hiện thiện chí hoà bình, kiên trì đối thoại nhằm thủ tiêu hoặc đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, đồng thời đề cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với tình huống xấu nhất: Chiến tranh lan rộng ra cả nước…

Bất chấp thiện chí hoà bình của Chính phủ và nhân dân ta, quân Pháp liên tục khiêu khích, lấn chiếm và tìm cách mở rộng chiến tranh, chỉ cần “một phần quân tăng viện từ mẫu quốc được chờ đợi đã đến nơi, nghĩa là khoảng 15.1.1947…”(5).

Điều đó hoàn toàn trùng hợp với một bản báo cáo của Morett – Giám đốc Sở An ninh Pháp tại Bắc Kỳ – phân tích tình hình ngày 15/12/1946, như sau: “Tôi không nghĩ rằng, Bộ chỉ huy các lực lượng Việt Nam có ý định mở cuộc xung đột, bởi họ đã có rất nhiều cơ hội, nhưng họ không lợi dụng những cơ hội đó. Theo ý mọi người, chúng ta mà chủ động gây chiến trước thì chỉ có thể là thắng lợi”(6).

Nhưng Pháp chưa đủ lực lượng cần thiết, họ phải chờ đợi, ít nhất vào giữa tháng 1 năm sau. Và khoảng thời gian đó (cuối tháng 12/1946 đến giữa tháng 1/1947) là thời cơ thuận lợi nhất để Đảng ta phát động kháng chiến toàn quốc. Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ vào ngày 19/12/1946, có thể nói đó là thời điểm tối ưu trong một thời cơ thuận lợi.

Một số người trong chính giới Pháp(7) đổ lỗi cho phía Việt Nam đã gây ra chiến tranh, họ xem đây là “một sự nhầm lẫn chính trị to lớn, nó đã đưa Đông Dương vào một cuộc chiến tranh dài vô tận…”(8).

Những tác giả trên cố tình không nhớ đến việc giới hiếu chiến Pháp đã chuẩn bị trở lại xâm lược Đông Dương khi Chiến tranh thế giới thứ hai chưa kết thúc. Việc họ theo gót quân Anh vào miền Nam là bất hợp pháp, việc ra được miền Bắc là nhờ sự mua bán với Tưởng Giới Thạch và bao lần không thực hiện các điều cam kết, liên tục khiêu khích, lấn chiếm, tiếp tục đưa quân sang để mở rộng chiến tranh…

Sau này, nhiều tác giả nước ngoài đã chỉ rõ nguồn gốc của cuộc chiến tranh. King C.Chen – một người Mỹ gốc Hoa – khẳng định: Về quân sự, tuy Việt Minh tiến công trước, nhưng điều đó không che lấp nguyên nhân thật sự của chiến tranh: “Việc trở lại chế độ thực dân Pháp mới là nguyên nhân căn bản của cuộc chiến”(9). Ký giả Mỹ Z.P.Harrison: “Có thể nói, ngay từ đầu Việt Minh đã nhượng bộ người Pháp, không còn cách nào tránh nổi, họ đã phải tiến hành chiến tranh”(10).

Vậy là, lãnh đạo cuộc kháng chiến đầu tiên sau khi giành được chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh, chủ động và kiên quyết phát động cuộc chiến đúng thời cơ, khi khả năng hoà hoãn không còn và đất nước đã được chuẩn bị về mọi mặt.

Sự kỳ diệu của chiến tranh nhân dân

Căn cứ vào tương quan lực lượng, vào thực trạng địch-ta, tối 19 tháng 12 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy chính thức phát lệnh cho các đơn vị, địa phương, chiến trường nổ súng đồng loạt.

20 giờ 3 phút ngày 19/12, quân và dân ta ở Hà Nội nổ súng đánh địch. Ngay trong đêm đến rạng sáng hôm sau, các thành phố, thị xã: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hòn Gai, Vinh, Nam Định, Huế cũng nổ súng đánh địch. Với nhiều lý do, trước hết là bởi phương tiện thông tin lạc hậu và kinh nghiệm triển khai phối hợp, chỉ huy chiến đấu còn hạn chế, chỉ Hà Nội thực hiện mệnh lệnh đúng thời gian, những nơi khác chậm từ 2 đến 7 giờ.

Quân và dân ta trên chiến trường Nam Bộ đẩy mạnh các hoạt động kháng chiến phối hợp với miền Bắc, “Nhiệm vụ của Nam Bộ là không thể cho Pháp đem hết tài sản chiếm được ở Nam Bộ ra đánh Trung, Bắc”(11).

Chủ trương đánh địch cùng lúc và đã tổ chức đánh địch gần như cùng một thời điểm, với tinh thần chủ động, đúng thời cơ, đã thể hiện rực rỡ nghệ thuật chỉ đạo mở đầu chiến tranh của Đảng ta.

Với một nhân dân đã làm chủ đất nước, với sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ, chỉ huy, cuộc tổng tiến công của quân và dân ta đã giam chân hàng vạn quân địch suốt hơn 3 tháng trời, tạo điều kiện cho cả nước tiếp tục chuyển vào thời chiến. Nhớ lại, cuối thế kỷ XIX, khi đánh Hà Nội, quân Pháp chỉ có vài đại đội bộ binh, do vài viên sĩ quan cấp uý chỉ huy mà đã chiếm thành, chiếm cả thành phố trong vài ngày, mới thấy rõ sự kỳ diệu của chiến tranh nhân dân có sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng.

Chúng ta vui mừng bởi lịch sử hai nước Việt-Pháp đã sang một chương mới. Đó là sự hợp tác và hữu nghị vì lợi ích của cả hai nước trong một thế giới hiện đại. Ôn lại quá khứ cũng là để cho quá khứ nhắc nhở hiện tại và tương lai, để những gì thuộc lợi ích chân chính của nhân dân hai nước và cả loài người không ngừng phát triển.

Chú thích:
(1). Trường Chinh, Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, H, 1987, tr.22.
(2). Văn kiện quân sự của Đảng, Nxb QĐND, H, 1976, tr.105.
(3). Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb QĐND-Nxb Thanh niên, H, 1995, tr.30.
(4). Văn kiện Đảng 1930-1945, Nxb Sự thật, H, 1977, tr.413.
(5). Dẫn theo Phi-líp Đơ-vi-le: Paris-Sài Gòn-Hà Nội, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993, tr.323.
(6). Dẫn theo Phi-líp Đơ-vi-le: Paris-Sài Gòn-Hà Nội, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993, tr.402-403.
(7). Xem J.Xanh-tơ-ni: Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Paris, 1967, lưu Thư viện Trung ương Quân đội (bản dịch), tr.21 và 254 và Xa-lăng: Một đế chế cáo chung (hồi ký), Paris, 1971, lưu Viện LSQS Việt Nam (bản dịch), tr.18 và 19.
(8). R.Xa-lăng, Sđd, tr.18-19.
(9). King C.Chen, Việt Nam và Trung Quốc (1938-1954), Sài Gòn cơ sở xuất bản Sử Địa, 1973, lưu Thư viện Viện LSQS, tr.180.
(10). Z.P.He-ri-xơn, Cuộc chiến tranh triền miên, Niu-oóc, 1982, lưu Trung tâm Thông tin Khoa học và Kỹ thuật quân sự (bản dịch).
(11). Văn kiện quân sự của Đảng, tập 2, Nxb QĐND, H, 1976, tr.69.

B.N – (theo Lao động)

Trận đánh nào được coi là trận đánh phục kích thắng lợi đầu tiên của Khu VIII, đánh dấu bước trưởng thành của bội đội khu, tỉnh góp phần thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh ở các địa phương phát triển trong kháng chiến chống Pháp?

Đó là trận Cổ Cò (ngày 22-1-1947 – mồng một Tết Đinh Hợi). Đây là trận phục kích của các Chi đội 17, 18, Đại đội Trường quân chính khu 8, một bộ phận Quốc vệ đội và du kích đánh tiểu đoàn cơ giới của Pháp từ chợ Mới về Sài Gòn. Trận địa bố trí từ cầu Bà Tồn đến cách Mĩ Thuận 1 km (trên quốc lộ 4), chủ yếu ở khu vực Cổ Cò (xã An Thái Đông, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho). 10 giờ 30 phút trận đánh bắt đầu. Sau khi nổ mìn chặn đầu, bộ binh dùng tiểu liên, lựu đạn diệt địch. Sau hai giờ chiến đấu, ta diệt 170, bắt 15 quân Pháp, phá 14 xe quân sự (8 bọc thép), thu trên 100 súng.

Theo: 60 Năm Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng(hỏi và đáp)Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-2004

Bộ Quốc phòng được thành lập vào thời gian nào?

Tháng Tư 2, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Hai trận thắng đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là những trận nào?Ý nghĩa những trận thắng đó?

Đó là trận Phai Khắt và trận Nà Ngần.Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh:”Trong một tháng phải có hoạt động.Trận đầu nhất định phải thắng lợi”.Ngày 25-12,Đội Việt NamTuyên truyền giải phóng quân đã cải trang, dùng mưu tập kích đồn Phai Khắt (xã Tam Lộng, tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng); ngày 26-12 diệt đồn Nà Ngần (cách Phai Khắt 15 km về phía đông-bắc) bắt 30 lính ngụy, diệt 2 sĩ quan (1 sĩ quan Pháp), thu vũ khí.Đây là hai trận đánh đầu tiên, thể hiện sự gan dạ mưu trí, tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân.Hai trận đánh có tiếng vang lớn, cổ vũ phong trào cách mạng trong khu căn cứ, mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng ngay từ trận đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đội du kích Ba Tơ thành lập khi nào?Ở đâu?Ai là những người chỉ huy đầu tiên của đội?

Đội du kích Ba Tơ thành lập ngày 12-3-1945, tại tỉnh Quảng Ngãi, gồm28 chiến sĩ, 24 khẩu súng.
Những người chỉ huy đầu tiên của Đội là:
Đội trưởng:Phạm Kiệt.
Chính trị ủy viên:Nguyễn Đôn.

Việt Nam Giải phóng quân thành lập khi nào?Ở đâu?Biên chế tổ chức khi mới thành lập?

Ngày !5-5-1945, Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân gặp nhau ở bãi Thàn Mát (tên một loài cây) phía sau đình làng Quặng (xã Định Biên,huyện Định Hòa,tỉnh Thái Nguyên).Cùng ngày, tại đình làng Quặng, đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên bố thống nhất các đội vũ trang cách mạng trong cả nước thành Việt Nam giải phóng quân.Lực lượng ban đầu gồm 13 đại đội (thống nhất từ các đại đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và các trung đội Cứu quốc quân) và các đội vũ trang tập trung ở các tỉnh,huyện.

Chiến khu Đông Triều thành lập khi nào?Ai là những người chỉ huy đầu tiên của Đội du kích chống Nhật của chiến khu này?

Chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo) thành lập ngày 8-6-1945.Đội du kích chống Nhật của chiến khu ra đời do các đồng chí Nguyễn Bình, Hải Thanh, Trần Cung…chỉ huy.Từ Đông Triều,Chí Linh (Hải Dương) địa bàn chiến khu nhanh chóng phát triển ra Quảng Yên, Kiến An, Hải Ninh, Hải Phòng, vùng duyên hải đông-bắc Bắc Bộ.

Việt Nam Giải phóng quân có vi trò như thế nào trong cuộc Tổng Khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945?

Việt Nam Giải phóng quân đã góp phần cùng toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Đêm 15 và ngày 16, từ Tân Trào, Việt Nam Giải phóng quân chia thành hai bộ phận tiến đánh tỉnh lỵ Tuyên Quang và Thái Nguyên.Ngày 17, tiến công trại lính Nhật (hơn một tiểu đoàn) ở thị xã Tuyên Quang.Từ ngày 20 đến ngày 25 tháng Tám, bao vây tiến công các vị trí quân Nhật ở Thái Nguyên, kêu gọi chúng đầu hang.

Ngày 19-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội,ngày 23-8 ở Huế và ngày 25-8 ở Sài Gòn.Ngày 28-8-1945, khởi nghĩa thắng lợi trên cả nước.

Việt Nam Giải phóng quân phát triển nhanh chóng trong quá trình Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945,

Bộ Quốc phòng được thành lập vào thời gian nào?Các đồng chí đã từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng qua các thời kỳ?

Bộ Quốc phòng được thành lập ngày 27-8-1945, các đồng chí từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng::Thượng tướng Chu Văn Tấn (1946-1946), Ông Phan Anh (1946), Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1946-1980), Đại tướng Văn Tiến Dũng (1980-1987), Đại tướng Lê Đức Anh (1987-1991), Đại tướng Đoàn Khuê (1991-1997),Đại tướng Phạm Văn Trà. Từ 2006 đến nay Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng là Đại tướng Phùng Quang Thanh.

Theo: 60 Năm Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng (hỏi và đáp)Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-2004

Nam Bộ mở đầu toàn quốc kháng chiến khi nào?

Tháng Tư 2, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Nam Bộ mở đầu toàn quốc kháng chiến khi nào?

Ngày 23-9-1945, Nam Bộ mở đầu kháng chiến toàn quốc.
Được quân Anh, Nhật tiếp sức, quân Pháp mở cuộc tiến công Sài Gòn (Nam Bộ).Các chiến sĩ tự vệ chiến đấu, thanh niên xung phong, xung phong công đoàn, thanh niên tiền phong cùng nhân dân Sài Gòn anh dũng chiến đấu đánh trả quân Pháp xâm lược.Các tỉnh miền Đông Nam Bộ thành lập Ủy ban kháng chiến. Nhân dân quyên góp lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bộ đội đánh giặc.Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam bộ họp tại số nhà 269, đường Cây Mai, Chợ Lớn, quyết định điện báo ra Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh xin chỉ thị, đông thời phát động ngay cuộc kháng chiến chống Pháp.

Hơn sáu mươi năm trước, vào ngày 23-9-1945, tức là chỉ 21 ngày sau khi khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thực dân Pháp lại dã tâm xâm chiếm nước ta một lần nữa. Chúng nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Nhân dân Nam Bộ chưa kịp hưởng niềm vui thanh bình, lại tiếp tục tay gậy tầm vông vùng lên cứu nước theo lời kêu gọi của Đảng, của Bác Hồ.

Chỉ 4 ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn. Theo gót quân Anh kéo vào Sài Gòn là một đại đội biệt kích Pháp mặc quân phục Anh, khi tới Sài Gòn chúng lập tức được điều đi chiếm một số vị trí quan trọng của quân Nhật đã chiếm đóng trước đó…

Dự liệu được tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọiNhân dân Việt Nam hãy sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu.

Hồ Chủ Tịch trong những ngày tháng 8 lịch sử

Đến ngày 12-9, thêm 2 đại đội biệt kích Pháp đến Sài Gòn, lần này chúng công khai mặc quân phục Pháp, theo chân sư đoàn 20 quân Anh. Ngày 19-9, đại tá Pháp Xê-đin được Đờ Gôn bổ nhiệm làm ủy viên Chính phủ Pháp ở miền Nam Việt Nam, đã họp báo trắng trợn tuyên bố việc quân đội Pháp có ý định duy trì trật tự ở Sài Gòn và thành lập một chính phủ theo tuyên bố Bra-da-vin ngày 24-3-1945 của Đờ Gôn. Ngay đêm sau đó chúng chiếm khám lớn Sài Gòn, thả hơn 1.400 lính Pháp bị Nhật bắt giữ, ngang nhiên phá phách, cướp bóc rất trắng trợn và ra lệnh thiết quân luật…

Trong khi đó ở miền Bắc, nạn đói khủng khiếp vẫn đang hoành hành, gần 20 vạn quân Tưởng kéo vào với dã tâm không chỉ “diệt cộng, cầm Hồ”, mà hơn thế chúng muốn xóa bỏ chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam, dựng lên một chính phủ bù nhìn thân Tưởng.

Những ngày khởi nghĩa sôi động tại Sài Gòn năm 1945

Chưa bao giờ trên đất nước Việt Nam lại nhiều kẻ thù đến thế. Chính quyền cách mạng vừa mới ra đời, vận mệnh dân tộc đã đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Vào thời điểm cách mạng Việt Nam đang giữa cơn phong ba bão táp ấy, thiên tài Hồ Chí Minh đã tỏa sáng rực rỡ với sứ mệnh lịch sử lái con thuyền cách mạng vượt mọi thác ghềnh. Ở Hà Nội, vừa lo đối phó với bọn Tưởng và bè lũ tay sai ở miền Bắc, Bác và Thường vụ Trung ương Đảng hàng giờ theo dõi chặt chẽ diễn biến phức tạp ở miền Nam. Bác căn dặn nhân dân Nam Bộ bình tĩnh, nhân nhượng để giữ vững nền hòa bình.

Nhưng dã tâm của thực dân Pháp là muốn đô hộ nước ta lần nữa và ngày 23-9 chúng đã nổ súng đánh chiếm sở cảnh sát, trụ sở UBND, nhà máy điện, kho bạc…, chúng đã buộc nhân dân ta phải cầm súng để bảo vệ nền độc lập tự do vừa mới giành được từ tay Nhật. Quân và dân Nam Bộ, mở đầu là Sài Gòn-Chợ Lớn đã nhất tề đứng dậy, thay mặt nhân dân cả nước mở đầu cuộc kháng chiến…

Ngay sáng hôm sau 24-9, Chính phủ ra hiệu triệu đồng bào cả nước đứng lên tiêu diệt hết bè lũ xâm lăng để giữ gìn nền độc lập cho nước nhà.Ngày 26-9, Hồ Chủ tịch gửi thư cho đồng bào cả nước để kêu gọi kháng chiến, kêu gọi đồng bào giúp đỡ các chiến sỹ cách mạng.

Hưởng ứng lời hiệu triệu của Chính phủ, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khắp các địa phương Bắc-Trung-Nam sục sôi hướng về Nam Bộ “Cương quyết giành độc lập”, “Ủng hộ cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Nam Bộ”, phát động “Quỹ ủng hộ Nam Bộ”, thanh niên nô nức tòng quân, các chi đội Nam tiến gấp rút lên đường vào Nam chiến đấu… Nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn đã triển khai nhiều biện pháp để bảo vệ thành quả cách mạng, các địa phương Nam Bộ ra sức củng cố, xây dựng lực lượng vũ trang.

Phó Bí thư Thành uỷ TP. HCM Lê Hoàng Quân chúc mùng nhà cách mạng lão thành Huỳnh Văn Tiễn - nhân chứng lịch sử của Ngày Nam bộ kháng chiến

Sáng 23-9-1945, quân Pháp được quân Anh giúp sức đã bất ngờ nổ súng đánh chiếm một số công sở của ta ở thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một lần nữa. Lập tức, các đơn vị tự vệ, thanh niên xung phong đã chiến đấu đánh trả quyết liệt để ngăn chặn bước tiến của quân thù.

Những tháng cuối năm 1945 và đầu 1946, lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương trên cả nước đã khẩn trương chi viện sức người, sức của cho Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên kháng chiến. Đồng thời, Kiều bào ta ở Thái-lan, Cam-pu-chia, Lào cũng tổ chức các chi đội hải ngoại từ nước ngoài về Nam Bộ. Các đơn vị vũ trang từ Bắc vào, từ nước ngoài về đã góp phần tăng thêm sức mạnh cho lực lượng vũ trang và nhân dân Nam Bộ chiến đấu, ngăn chặn bước tiến của quân địch.

Chủ động đối phó với âm mưu và thủ đoạn của địch, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ ra lệnh cho các sư đoàn Cộng hòa Vệ binh và sư đoàn Dân quân cách mạng rút ra vùng ngoại ô. Tại nội thành Sài Gòn có 320 đội tự vệ chiến đấu và một số tiểu đoàn Cộng hòa vệ binh tuần tra canh gác công sở. Tuy mới hình thành, tổ chức còn phân tán, trang bị thô sơ, song với lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, các đơn vị vũ trang Nam Bộ đã quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc.

Ngày 24-9, Tổng công đoàn Nam Bộ hiệu triệu giai cấp công nhân sát cánh cùng toàn dân kháng chiến. Nhân dân triệt để thực hiện chủ trương không hợp tác với địch, tất cả công sở, hiệu buôn lập tức đóng cửa, các xí nghiệp ngừng hoạt động, chợ không họp, nhà máy điện, nhà máy nước bị phá. Nhân dân, tự vệ, công nhân, cảnh sát xung phong, thanh niên, sinh viên lập chướng ngại vật, đắp ụ, lập các ổ chiến đấu ngăn chặn địch. Cả Sài Gòn-Chợ Lớn vào trận.

Từ cuối tháng 10-1945, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Từ đây, cuộc chiến đấu của quân và dân Nam Bộ chuyển sang giai đoạn mới.
Trước tình hình địch mở rộng cuộc tiến công ra vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngày 25-10, Hội nghị Xứ ủy Nam Kỳ mở rộng đã quyết định tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Đồng chí Tôn Đức Thắng được cử phụ trách Ủy ban Kháng chiến và chỉ đạo lực lượng vũ trang Nam Bộ. Phát huy tinh thần chiến đấu của các đơn vị vũ trang Sài Gòn-Gia Định, lực lượng vũ trang các tỉnh Nam Bộ đã chiến đấu dũng cảm, ngăn chặn địch khi chúng đánh rộng ra vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Trong hai tháng 11, 12-1945 và tháng 1-1946, các đơn vị vũ trang cùng nhân dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ đã chiến đấu ngăn chặn làm chậm bước tiến của quân địch, gây cho chúng một số thiệt hại. Song do lực lượng chênh lệch không lợi cho ta, Xứ ủy Nam Kỳ chỉ đạo lực lượng vũ trang các tỉnh sau khi đánh kìm giữ quân địch trong các thị xã một thời gian, đều phải rút ra các căn cứ bên ngoài, bảo tồn lực lượng kháng chiến lâu dài.

Cuộc kháng chiến anh dũng của Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã ngăn chặn một bước sự xâm lược của thực dân Pháp, đánh đòn đầu tiên vào âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp làm tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ kìm giữ quân địch trong thành phố và các thị xã trong một thời gian dài, góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh giữ vững chính quyền nhân dân, chủ quyền dân tộc.

Ví sao ngày 16-4 hằng năm trở thành ngày truyền thống của ngành quân y?

Quân y Cục thành lập ngày 16-4-1946 (Nghị định số 12/NĐ của Bộ Quốc phòng).
Nhiệm vụ: Tổ chức việc y tế và thú y trong quân đội.
Cục trưởng: Bác sĩ Vũ Văn Cẩn.
Vì thế, ngày 16-4 hằng năm trở thành ngày truyền thống của ngành quân y.

Hội nghị quân sự toàn quốc ngày 19-10-1946 họp tại nhà số 58 phố Nguyễn Du, Hà Nội đã có những nhận định và quyết định gì về cuộc kháng chiến và xây dựng lực lượng vũ trang?

Ngày 19-10-1946, Hội nghị quân sự toàn quốc họp tại nhà số 58, phố Nguyễn Du, Hà Nội do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì.Các đồng chí Ủy viên Quân ủy Hội và cán bộ quân sự, chính trị chủ chốt của các khu tham dự.Hội nghị nhận định: “Không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”,; Quyết định gấp rút xây dựng lực lược kháng chiến, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang, đặc biệt là công tác đảng – công tác chính trị trong Vệ quốc đoàn.Mỗi đại đội hay một cơ quan từ tiểu đoàn trở lên tổ chức một chi bộ.Chỉnh đốn các cán bộ chính trị viên bằng cách đưa ngươì có năng lực vào.Mở trường huấn luyện chính trị viên.Quy định rõ chế độ chính trị viên và các cơ quan chính trị trong bộ đội…

Trường võ bị Trần Quốc Tuấn được thành lập vào thời gian nào? Lá cờ mà Bác Hồ tặng nhà trường trong lễ khai giảng đâu tiên mang dòng chữ gì?

Ngày 17-4-1946, thành lập Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn trên cơ sở Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam.
Giám đốc: Hoàng Đạo Thúy.
Phó Giám đốc: Trần Tử Bình.
Ngày 26-5-1946, trường khai giảng khóa I tại Sơn Tây ( 288 học viên). Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự, tặng trường lá cờ thêu dòng chữ: “Trung với nước, hiếu với dân”.

Quỹ “Mùa đông binh sĩ” và “áo trấn thủ” sử dụng trong quân đội ra đời vào thời gian nào?

Tháng 10-1946, Chính phủ lập quỹ “Mùa đông binh sĩ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng áo, tư trang và lương của người cho bộ đội. Các tầng lớp nhân dân, đoàn thể cứu quốc quyên góp được nhiều vải, quần, áo, chăn, màn. Áo trấn thủ do một cửa hàng ở phố Hàng Trống, Hà Nội may bắt đầu được sử dụng trong quân đội vào thời gian này.

Theo: 60 Năm Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng(hỏi và đáp)Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-2004

Nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra cho Bộ Tổng tham mưu trong Chỉ thị thành lập ngày 7-9-1945 là gì?

Tháng Tư 2, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra cho Bộ Tổng tham mưu trong Chỉ thị thành lập ngày 7-9-1945 là gì?

Ngày 7-9-1945 ,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị thành lập Bộ Tổng tham mưu,trong đó nêu rõ rằng Bộ Tổng tham mưu là cơ quan tham mưu cơ mật của Đoàn thể,cơ quan đầu não của quân đội,có nhiệm vụ: “Tổ chức,huấn luyện quân đội cho giỏi,tổ chức nắm địch,nắm ta rõ ràng; bày mưu kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt; bí mật, nhanh chóng; kịp thời;chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù,bảo vệ thành quả cách mạng”(1).
1.55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam , Sđd, tr.21.

Vì sao ngày 9-9 hằng năm trở thành ngày truyền thống của bộ đội thông tin liên lạc?

Ngày 9-9-1946, thành lập Phòng Thông tin liên lạc quân sự Bộ Tổng tham mưu do đồng chí Hoàng Đạo Thúy phụ trách.Vì thế,ngày 9-9 hàng năm trở thành ngày truyền thống của bộ đội thông tin liên lạc.

Vì sao ngày 12-9 hằng năm trở thành ngày truyền thống của ngành cơ yếu quân đội?

Ngày 12-9-1945, thành lập Ban Mật mã quân sự ( thuộc phòng Thông tin liên lạc quân sự-Bộ Tổng tham mưu) có nhiệm vụ nghiên cứu, biên soạn và sử dụng mật mã, bảo đảm bí mật nội dung lãnh đạo và chỉ huy các cấp trong quân đội khi chuyể qua các phương tiện thông tin.
Cán bộ phụ trách:Tạ Quang Đệ.
Vì thế,ngày 12-9 hằng năm trở thành ngày truyền thống của ngành mật mã (cơ yếu) của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tại sao ngành tòa án quân sự lấy ngày 13-4 hằng năm làm ngày truyền thống?

Ngày 13-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh thiết lập các tòa án quân sự.Trong đó quy định:
“Điều 1 – Sẽ lập tòa án quân sự ở Bắc Bộ: tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình; ở Trung Bộ: Tại Vinh, Huế, Quảng Ngãi; ở Nam Bộ: tại Sài Gòn, Mĩ Tho.
Điều 2 – Tòa án quân sự sẽ xử tất các các người nào phạm vào một việc gì phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Trừ phi phạm nhân là binh sĩ thì thuộc về nhà binh tự xử lấy theo quân luật”(1).
Từ đó, ngày 13-9 trở thành ngày truyền thống của ngành toà án quân sự.
(1).55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Sđd, tr23.

Tại sao Tổng cục Công nghiệp quốc phòng lấy ngày 15-9 hằng năm làm ngày truyền thống?

Ngày 15-9-1945, quân đội ta thành lập Phòng Quân giới thuộc Bộ Quốc phòng. Nhiệm vụ: thu thập, mua sắm và tổ chức các cơ sở sản xuất vũ khí để trang bị cho quân đội.Tổ chức gồm các bộ phận: Sưu tầm, mua sắm, phân phối vũ khí; lập các bản vẽ kĩ thuật vũ khí, văn phòng.
Phụ trách chung: Vũ Anh.
Trưởng phòng: Nguyễn Ngọc Xuân.

Vì thế, ngày 15-9 hằng năm trở thành ngày tryền thống của ngành quân giới Việt Nam; ngày truyền thống của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng ngày nay.

Trong chỉ thị Chấn chỉnh,mở rộng và đổi tên Việt Nam Giải phóng quân thành Vệ quốc đoàn,Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn những gì?Biên chế của Vệ quốc đoàn khi mới thành lập?

Giữa tháng 9-1945,Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Chỉ thị chấn chỉnh, mở rộng và đổi tên Việt Nam Giải phóng quân thành Vệ quốc đoàn – quân đội của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Người căn dặn Vệ quốc đoàn,các lực lượng vũ trang và nhân dân, thực hiện sách lược mềm dẻo đối với quân đội Tưởng Giới Thạch (dưới danh nghĩa quân Đồng minh, kéo theo bọn phản động tay sai vào miền Bắc, giải giáp quân đội Nhật).Phải hết sức tránh khiêu khích, không để xảy ra xung đột với quân Tưởng.Nếu xảy ra xung đột thì biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không xung đột(1). Thực hiện chỉ thị mở rộng lực lượng của Bác, từ một số chi đội, đại đội ( khoảng 5.000 người) trong những ngày tổng khởi nghĩa đến cuối năm 1945, Vệ quốc đoàn đã phát triển lên 50.000 người,gồm 40 chi đội (mỗi chi đội từ 1.000 đến 2.000 người).

(1). 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Sđd, tr.23.

Theo: 60 Năm Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng(hỏi và đáp)Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-2004

Danh sách 34 chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân dự lễ thành lập (ngày 22-12-1944)

Tháng Tư 2, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Theo sách “60 Năm Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng (hỏi và đáp)” – Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia -2004: Danh sách 34 chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân dự lễ thành lập(ngày 22-12-1944). Đó là các đồng chí:

34 chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân dự lễ thành lập (ngày 22-12-1944) :Ảnh internet.

1.Trần Văn Kỳ (bí danh Hoàng Sâm), dân tộc Kinh, quê Lệ Sơn, Tuyên Hóa, Quảng Bình-Đội trưởng.
2.Dương Mạc Thạch (bí danh Xích Thắng), dân tộc Tày, quê Minh Tâm, Nguyên Bình, Cao Bằng-Chính trị viên.
3.Ngô Quốc Bình (bí danh Hoàng Văn Thái), dân tộc Kinh, quê An Khang, Tiền Hải, Thái Bình-tình báo và kế hoạch tác chiến.
4.Lâm Cẩm Như (bí danh Lâm Kính), dân tộc Kinh, quê Đông Khê, Thạch An, Cao Bằng-Công tác chính trị.
5.Lộc Văn Lùng (bí danh Văn Tiên), dân tộc Tày, quê Mai Pha, Cao Lộc, Lạng Sơn-quản lý.
6.Hoàng Thịnh (bí danh Quyền), dân tộc Tày, quê Tràng Xá, Võ Nhai, Thái Nguyên.
7.Nguyễn Văn Càng (bí danh Thu Sơn) ,dân tộc Tày, quê Hồng Việt, Hòa An, Cao Bằng.
8.Đàm Quốc Chủng (bí danh Quốc Chủng), dân tộc Tày, quê Bình Long, Hòa An, Cao Bằng.
9.Hoàng Văn Nình (bí danh Thái Sơn) dân tộc Nùng, quê Thượng Ân, Ngân Sơn, Bắc Kạn.
10.Hà Hương Long, dân tộc Tày, quê Nam Tuấn, Hòa An , Cao Bằng.
11.Đức Cường (tức Cơ), dân tộc Tày, quê Đề Thám, Hòa An, Cao Bằng.
12.Bế Văn Sắt (bí danh Hồng Quân Mậu), dân tộc Tày, quê Bình Long, Hòa An, Cao Bằng.
13.Đinh Trung Lương (bí danh Trung Lương), dân tộc Tày, quê Lê Lợi, Thạch An, Cao Bằng.
14.Tô Vũ Dâu (bí danh Thịnh Nguyên), dân tộc Tày, quê Vĩnh Quang, Hòa An, Cao Bằng.
15.Đồng chí Luận, dân tộc Kinh, quê Quảng Bình.
16.Bế Bằng (bí danh Kim Anh), dân tộc Tày, quê Hồng Việt, Hòa An, Cao Bằng.
17.Nông Phúc Thơ, dân tộc Nùng, quê Tràng Xá, Võ Nhai, Thái Nguyên.
18.Nông Văn Kiểm (bí danh Liên), dân tộc Tày, quê Tam Kinh, Nguyên Bình, Cao Bằng.
19.Ma Văn Phiêu (bí danh Bắc Hợp(Đường)), dân tộc Tày, quê Nguyên Bình, Cao Bằng.
20.Chu Văn Đế (bí danh Nam) ,dân tộc Tày, quê Minh Tâm, Nguyên Bình, Cao Bằng.
21.Bế Văn Vạn (bí danh Vạn), dân tộc Tày, quê Vân Tùng, Ngân Sơn, Bắc Kạn.
22.Nông Văn Bê (bí danh Thâm), dân tộc Nùng, quê Hoàng Tung, Hòa An, Cao Bằng.
23.Hồng Cô, dân tộc Mông, quê Lũng Giẻ, Nguyên Bình, Cao Bằng.
24.Nguyễn Văn Phán (bí danh Kế Hoạch), dân tộc Tày, quê Hồng Việt, Hòa An, Cao Bằng.
25.Đặng Dần Quý (bí danh Quí), dân tộc Dao, quê Tam Kinh, Nguyên Bình, Cao Bằng.
26.Tô Văn Cắm (bí danh Tô Tiến Lực), dân tộc Tày, quê Tam Kinh, Nguyên Bình, Cao Bằng.
27.Hoàng Văn Lương (bí danh Kinh Phát), dân tộc Nùng, quê Đức Vân, Ngân Sơn, Bắc Kạn.
28.Hoàng Văn Nhủng (bí danh Xuân Trường), dân tộc Tày, quê Sóc Hà, Hà Quảng, Cao Bằng.
29.Trương Đắc (bí danh Đồng),dân tộc Tày,quê Minh Tâm, Nguyên Bình, Cao Bằng.
30.Dương Đại Long, dân tộc Nùng, quê Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng.
31.La Thanh, dân tộc Nùng, quê Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng.
32.Ngọc Trình, dân tộc Nùng, quê Bình Long, Hòa An, Cao Bằng.
33.Nông Văn Ích, dân tộc Nùng, quê Hà Quảng, Cao Bằng.
34.Thế Hậu, dân tộc Nùng, quê Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng.

Theo: 60 Năm Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng(hỏi và đáp)Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-2004

Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập khi nào? Ở đâu?

Tháng Tư 2, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập khi nào? Ở đâu? Biên chế tổ chức, chỉ huy và nhiệm vụ của Đội khi mới thành lập?

Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22-12-1944 tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đội gồm 34 chiến sĩ, có 34 khẩu sung các loại, biên chế thành 3 tiểu đội, có chi bộ Đảng lãnh đạo.

Đội trưởng: Hoàng Sâm

Chính trị viên: Xích Thắng

Quản lý: Văn Tiên (tức Lộc Văn Lùng).

Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh ủy nhiệm tổ chức, lãnh đạo,chỉ huy tuyên bố thành lập Đội” Nhiệm vụ mà Đoàn thể ủy thác cho chúng ta là một nhiệm vụ quan trọng và nặng nề. Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời.Vận dụng vũ trang tuyên truyền để kêu gọi toàn dân đứng dậy,chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này… Theo chỉ thị của Đoàn thể, dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, tôi xin tuyên bố: Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân thành lập và hạ lệnh cho các đồng chí tiến lên con đường vũ trang tranh đấu…”(1)

(1) Những ngày kỉ niệm lớn trong nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1972, tr 189-190.

Theo: 60 Năm Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng (hỏi và đáp) - Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia- 2004

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU,TRƯỞNG THÀNH VÀ CHIẾN THẮNG VẺ VANG

Tháng Tư 2, 2011 Phản hồi đã bị khóa

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM: NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU,TRƯỞNG THÀNH VÀ CHIẾN THẮNG VẺ VANG

I-QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM NHỮNG NGÀY ĐÂU THÀNH LẬP VÀ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC(1944-1954)

1.Lịch sử ra đời, nhiệm vụ và biên chế tổ chức, chỉ huy của Đội vũ trang Cao Bằng?

Đội vũ trang Cao Bằng, đội vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng, giữ vững giao thông liên lạc, vũ trang tuyên truyền trong quần chúng, huấn luyện tự vệ và tự vệ chiến đấu trong tỉnh. Độ được thành lập vào tháng 10-1941 tại Pác Bó theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh), gồm 12 người, 7 súng (3 súng lục,4 súng trường), do Lê Quảng Ba làm Đội trưởng,Hoàng Sâm-Đội phó, Lê Thiết Hùng-Chính trị viên.Từ cuối năm 1942, lực lượng của Đội được phân tán về các địa phương huấn luyện các đội tự vệ chiến đấu.Tới ngày 22-12-1944, một số cán bộ, đội viên Đội vũ trang Cao Bằng được lựa chọn vào Đội Viêt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, số còn lại nhận nhiệm vụ khác.

CHỈ THỊ THÀNH LẬP ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN 12-1944

1. Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hǎng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam.

Tháng 12 nǎm 1944

Hồ CHÍ MINH

In trong sách Vǎn kiện Đảng,
(từ 25-1-1939 đến 2-9-1945),
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963,
tr. 459-460.

TÓM TẮT: QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Bộ phận chủ yếu của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Ngày thành lập đồng thời là ngày truyền thống 22.12.1944 – ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân. Trước đó, đã hình thành một số đơn vị lực lượng vũ trang : các đội tự vệ công nông trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 – 31); quân du kích Nam Kỳ; đội du kích Bắc Sơn; các Đội Cứu quốc Quân. Trong thời kì trực tiếp chuẩn bị và tiến hành tổng khởi nghĩa, còn có các đội du kích chống Nhật của các chiến khu Hoà – Ninh – Thanh, Đông Triều, Thái – Hà – Tuyên, các đội Cảm tử Quân ở Bến Tre (sau 9.3.1945), các đội xung phong vũ trang ở Sa Đéc, Mỹ Tho, vv. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (1945), đã quyết định thống nhất Cứu quốc Quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân và một số tổ chức vũ trang khác thành Việt Nam Giải phóng quân (5.1945), là đội quân chủ lực đầu tiên để tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, Việt Nam Giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc Đoàn (11.1945). Đến ngày 22.5.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 7 quy định Vệ quốc đoàn trở thành Quân đội quốc gia nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ 1950, thành QĐNDVN.

Quân đội Nhân dân Việt Nam Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

QĐNDVN sinh ra và lớn lên trong chiến tranh cách mạng sôi nổi, rộng khắp và liên tục của nhân dân lao động, là đội quân công – nông mang bản chất của giai cấp công nhân, ngay từ đầu đã đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Kế thừa truyền thống quân sự Việt Nam, được nhân dân tin yêu, nuôi dưỡng và giúp đỡ, QĐNDVN trưởng thành vững chắc, liên tục đánh bại nhiều đội quân xâm lược lớn, mạnh, hiện đại. Kể từ khi thành lập cho đến nay, QĐNDVN đã có hàng nghìn đơn vị, cán bộ và chiến sĩ được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được Quốc hội tặng thưởng huân chương Sao vàng.

TRUYỀN THỐNG QUÂN SỰ VIỆT NAM:

Những di sản quý báu về phẩm chất quân sự được hình thành, phát triển qua thực tiễn lịch sử của nhiều thế hệ người Việt Nam, đặc biệt được kế thừa và phát triển lên một trình độ mới, với chất lượng mới trong thời đại Hồ Chí Minh, tạo thành sức mạnh quân sự trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Những biểu hiện tập trung của TTQSVN: 1) Truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần tự lập tự cường, anh dũng bất khuất, quyết chiến quyết thắng. Trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm, với ý chí “đánh cho lịch sử biết rằng nước Nam anh hùng chi hữu chủ”, “Nam quốc sơn hà nam đế cư” (non sông nước Nam, vua Nam ở), “thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu là nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhân dân Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục. Khi ngọn cờ đại nghĩa được phất cao thì cả dân tộc vùng lên quyết chiến quyết thắng. 2) Truyền thống quân sự nổi bật của dân tộc Việt Nam là truyền thống cả nước đồng lòng, chung sức đánh giặc. Từ lâu, trước hoạ ngoại xâm, nhân dân Việt Nam đã sớm có ý thức cố kết dân tộc để giữ nước, sớm biết gắn quyền lợi của Tổ quốc với quyền lợi của gia đình và bản thân, gắn bó nước với nhà, làng với nước trong mối quan hệ keo sơn. Mỗi khi có giặc thì “cả nước chung sức đánh giặc”, thực hiện “tân dân vi binh”, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, đánh giặc bằng mọi thứ công cụ, vũ khí có trong tay từ thô sơ như mác, rìu, dao, gậy tầm vông vót nhọn… đến những vũ khí tương đối hiện đại. Lực lượng tiến hành chiến tranh yêu nước không chỉ có quân đội mà dân chúng cả nước cùng tham gia. Trong xây dựng lực lượng với chính sách ngụ binh ư nông, đã biết tổ chức ra nhiều thứ quân (quân trung ương, quân địa phương), có lực lượng vũ trang và bán vũ trang.

3) TTQSVN còn thể hiện ở nền nghệ thuật quân sự độc đáo của một dân tộc nhỏ chống lại những đạo quân xâm lược lớn mạnh. Nét nổi bật về nghệ thuật quân sự của dân tộc Việt Nam là nghệ thuật toàn dân đánh giặc với nhiều hình thức linh hoạt nghệ thuật dùng mưu và dùng thế của một đội quân lấy ít địch nhiều, nhỏ thắng lớn; nghệ thuật thắng địch trong những cuộc đấu tranh lâu dài, đồng thời lại có nghệ thuật thắng địch trong những cuộc chiến tranh tương đối ngắn; luôn quán triệt tư tưởng quân sự truyền thống – tư tưởng tiến công, phát huy cao độ tinh thần anh dũng và trí thông minh, vận dụng nhiều cách đánh phù hợp, tạo thành thế trên cả nước đánh giặc, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh; kết hợp đánh du kích với đánh tập trung; kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn; kết hợp tiến công quân sự với đấu tranh chính trị, chú trọng “tâm công” (binh vận) với tinh thần “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo”; kết hợp đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị với đấu tranh ngoại giao… tạo nên sức mạnh tổng hợp để thắng địch.

TTQSVN là một tài sản vô giá, là một nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh quân sự mang bản sắc Việt Nam, cần được kế thừa và phát huy trong điều kiện mới, góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc lao động hoà bình của nhân dân Việt Nam.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.